
DOANH NHÂN XƯA ĐẤT CẢNG
Nhân chuyến anh Ozi, Việt Kiều Úc về thăm Hải Phòng. Cát Biển có trò chuyện và mạn bàn với anh Ozi về các Doanh nhân Hải Phòng xưa như: Bạch Thái Bưởi, Nguyễn Sơn Hà, Vạn Vân, Phạm Văn Phi, Quảng Thịnh, Cát Tường, Lê Văn Thược,... Nay Cát Biển xin có một bài viết kể về các Doanh nhân xưa đất Cảng tặng anh Ozi và các bạn tham khảo. Hy vọng anh Ozi và các bạn tham gia ý kiến để có thể kể tiếp câu chuyện về Doanh nhân xưa đất Cảng; Và sau đó là câu chuyện về Doanh nhân đất Cảng ngày nay nữa.
Bạch Thái Bưởi- Ông vua tàu thuỷ
Ông Bạch Thái Bưởi sinh năm 1874 ở Yên Phú, Thanh Trì, Hà Nội. Do tư chất thông minh, lại ham học hỏi cái mới nên Bạch Thái Bưởi sớm thông thạo tiếng Pháp và đã được nhận làm Ký lục cho một hãng buôn của người Pháp. Năm 1894, Bạch Thái Bưởi chuyển sang làm cho một hãng Thầu công chính. Năm 1909, Bạch Thái Bưởi đã thuê lại của A. Marty, một chủ hãng tàu thủy Pháp ở Bắc Kỳ, ba chiếc tàu: Phi Phụng, Phi Long và Khoái Tử Long. Chỉ 7 năm làm vận tải thủy, đến 1915, ông mua được cả xưởng đóng tàu và sửa chữa tàu thủy của A.Marty. Vậy là ông đã chủ động hoàn toàn, từ sửa chữa tàu, đóng mới tàu và chạy tàu.
Năm 1916, tại Hải Phòng, Bạch Thái Bưởi đã khai trương một Công ty lừng danh "Giang hải luân thuyền Bạch Thái Bưởi Công ty", có cờ hiệu riêng màu vàng in hình mỏ neo và 3 ngôi sao đỏ. Công ty Bạch Thái Bưởi có hơn 40 tàu thủy và sà lan chạy trên các tuyến sông Bắc Kỳ, miền Trung và Nam Kỳ; Còn có một số tàu viễn dương, chạy tới Hồng Kông, Trung Quốc, Philippin, Singapore, Nhật Bản... Công ty lớn có hơn 1400 người.Trong kinh doanh, Bạch Thái Bưởi rất chú trọng công tác tiếp thị. Mỗi tuyến đường thủy mở ra, ông đều cho đăng quảng cáo trên báo chí, đặc sắc nhất là ông hay dùng những bài thơ quảng cáo khiến dân chúng dễ nhớ. Như tuyến đường thủy đi Chùa Hương, ông cho đăng bài thơ có những câu:
Sông Phủ Lý gần kề cạnh bến
Thuyền hỏa xa vừa đến thời đi
Chèo Lan trỏ nẻo Đục Khê
Lại từ Bến Đục đua về Hà Nam....
Tàu của Công ty Bạch Thái Bưởi hết sức sạch sẽ và an toàn trong hành trình do được người thợ đóng tàu chất lượng cao ngay từ Xưởng đóng và sửa chữa tàu Cửa Cấm, bên bờ sông Tam Bạc. Tại Xưởng có gần 900 công nhân làm việc. Kỹ thuật sửa chữa và đóng tàu của Xưởng này, đương thời là một niềm tự hào của người Việt Nam. Năm 1916, Xưởng tiến hành nối dài chiếc tàu Khoái Tử Long bằng cách cắt đôi con tàu rồi nối thêm một khúc giữa dài 7,80 mét, năm 1919 lại nối dài tàu Phố Lu thêm 7,20 mét... Thành công xuất sắc nhất là sự kiện đóng mới con tàu Bình Chuẩn trọng tải 600 tấn, hạ thủy ngày 7/9/1919. Tàu Bình Chuẩn khởi chạy ngày 20/8/1920, chuyến đường thuỷ xuyên Việt từ Hải Phòng đi Sài Gòn, có ghé qua các bến cảng Bến Thủy, Đà Nẵng, Quy Nhơn.
Ngoài kinh doanh vận tải thủy, Bạch Thái Bưởi còn dùng vốn đầu tư vào các ngành khác như: khai thác mỏ, bất động sản,... trong đó có đầu tư làm nhà in "Đông Kinh ấn quán" và xuất bản tờ "Khai hóa Nhật báo" với mục đích cổ động mạnh mẽ phong trào doanh nghiệp của người Việt Nam... Tiếc thay, cuộc sống của con người tay trắng làm nên sự nghiệp lớn đã không được dài lâu, Bạch Thái Bưởi qua đời ngày 22/7/1932 tại Hải Phòng. Có thể thấy Bạch Thái Bưởi là nhà doanh nghiệp Hải Phòng nói riêng và Việt Nam nói chung hiểu sâu sắc sức mạnh của tình cảm dân tộc, và ông đã thành công.
Nguyễn Sơn Hà- Chủ hãng sơn uy tín
Ông Nguyễn Sơn Hà quê Quốc Oai, Sơn Tây, nhưng sinh ở Hà Nội năm 1894. Làm thư ký cho hãng sơn dầu nổi tiếng Sauvage Cottu, Nguyễn Sơn Hà lẳng lặng học nghề làm sơn dầu với quyết tâm sẽ gây dựng cuộc đời bằng nghề này. Khi đã nắm được những bí quyết cơ bản của nghề sản xuất và kinh doanh sơn dầu, ông xin thôi việc. Ông bán chiếc xe đạp, lấy tiền làm vốn, mở một cửa hàng nhỏ nhận việc quét vôi, quét sơn, kẻ biển. Bề ngoài là vậy, nhưng trong nội bộ là lẳng lặng chế thử sơn dầu... Cuối cùng, Nguyễn Sơn Hà đã thành công!
Đầu những năm 30 của thế kỷ XX, ở Hải Phòng, hiệu sơn dầu của Nguyễn Sơn Hà đã xuất hiện và dám cạnh tranh với các hàng sơn của người Pháp và người Hoa. Với giá thành hạ, chất lượng tốt, mau khô và bóng đẹp, sơn của Nguyễn Sơn Hà ngày càng được khách hàng ngoài Bắc, trong Nam tín nhiệm. Với những mặt hàng phong phú như sơn Résistanco A- B dùng cho sơn xe đạp, sơn Durolac để sơn ôtô, sơn Ideal dùng sơn các vật dụng thông thường..., sau một thời gian ngắn, sơn của Nguyễn Sơn Hà đã cạnh tranh được với cả sơn của hãng Sauvage Cottu, sơn Ripholin nhập từ Pháp sang.
Nguyễn Sơn Hà trở thành niềm tự hào của người Việt Nam, từ tay trắng làm nên sự nghiệp, khẳng định tài trí của người Việt. Như lời của Phan Bội Châu viết trong câu đối tặng Nguyễn Sơn Hà: Hoá học bác âu trường, tô điểm sơn hà tâm hữu tất - Công khoa tồn Việt chủng, chuyển di thời thế thủ vi cơ. (Tạm dịch: Lấy hoá học người âu điểm tô cho sông núi bởi tấm lòng son sẵn có - Làm công nghệ đất Việt, đổi thay thời thế từ tay trắng làm nên).
Xuất thân từ một gia đình nghèo khổ, Nguyễn Sơn Hà có một tấm lòng thương người đặc biệt, ông luôn quan tâm đến việc làm sao để nâng cao vị thế của dân mình. Khi phong trào truyền bá quốc ngữ được thành lập ở Hà Nội và một số tỉnh, Nguyễn Sơn Hà liền đứng ra vận động mọi người thân quen làm nòng cốt để gây dựng phong trào Truyền bá quốc ngữ ở Hải Phòng. Cụ Nguyễn Văn Tố đã thân hành về Hải Phòng đề nghị Nguyễn Sơn Hà làm hội trưởng Hội Truyền bá quốc ngữ Hải Phòng, Kiến An. Năm 1945, khi nạn đói khủng khiếp xảy ra, Nguyễn Sơn Hà đã đứng ra tổ chức ban cứu đói. Vợ chồng ông còn đứng ra lập trường Dục Anh tại số nhà 46 phố Lạch Tray để nuôi dạy trẻ mồ côi.
Khi thực dân Pháp đánh chiếm Hải Phòng, cả gia đình ông Nguyễn Sơn Hà đều tham gia kháng chiến, rồi lên Việt Bắc. Ở chiến khu, ông cùng một số cộng sự nghiên cứu tìm tòi các nguyên liệu và phương tiện để mở xưởng sản xuất ra giấy than, mực in litô và vải che mưa. Vải che mưa của xưởng Nguyễn Sơn Hà chế tạo có thể chống mưa, nguỵ trang cũng tốt, lại có thể dùng làm chiếu nằm rất tiện lợi... Vào tháng 10/1948 và tháng 3/1949, hai lần ông được Hồ Chủ tịch gửi thư khen và động viên ông tiếp tục đóng góp cho kháng chiến...
Hoà bình lập lại, Nguyễn Sơn Hà đưa gia đình về lại thành phố Hải Phòng. Đến năm 1980, ông qua đời, hưởng thọ 86 tuổi. Cả cuộc đời, ông luôn lao động sáng tạo và yêu thương đồng bào của mình. Bởi vậy, tiếng thơm của ông, người đời nhớ mãi. Tháng 1/2010, nhân kỷ niệm 30 năm ngày mất Nguyễn Sơn Hà, Thành phố Hải Phòng đã tổ chức ghi nhận những cống hiến quý báu của Nguyễn Sơn Hà, một Doanh nhân đất Cảng tài trí, giàu lòng yêu nước.
Vạn Vân- Thương hiệu nước mắm nổi tiếng
Ông Đoàn Đức Ban (thường gọi là Lý Ban) ở thôn Hoà Hy, xã Hoà Quang là người đầu tiên nghĩ tới việc sản xuất nước mắm Cát Hải lên bán cho chính vùng Kinh Bắc. Nước mắm được chở bằng thuyền tới vạn chài làng Vân (Vạn Vân) sau đó toả đi các nơi do vậy người mua quen gọi là nước mắm Vạn Vân. Bản thân Đoàn Đức Ban cũng luôn luôn mang ơn nơi đã truyền nghề cho mình bèn nhận cái tên dân gian và chính thức đặt tên cho nước mắm của mình là Vạn Vân. Ngư dân Cát Hải, Cát Bà, Quảng Yên, Hồng Gai, Hải Ninh tới tấp chở cá bán cho những hộ sản xuất nước mắm và chở bã cá từ đấy bán cho nguời Hà Cối dùng trong chăn nuôi.
Vạn Vân là người có đầu óc kinh doanh và phát triển sản xuất. Ông mua nhà ở Bắc Ninh, Hải Phòng, Hà Nội vừa làm kho vừa làm cửa hàng. Cửa hàng ở Hải Phòng đặt tại 184 Xavátxiơ (nay là phố Quang Trung), ngay trước bến nhận hàng trên sông Lấp. Cửa hàng ở Hà Nội đặt tại ngã ba phố Trần Nhật Duật và Hàng Khoai gần sông Hồng và ga Đầu Cầu (ga Long Biên). Cửa hàng ở Bắc Ninh cũng gần sông.
Năm 1936 xí nghiệp Vạn Vân là cơ sở sản xuất nước mắm lớn nhất nước ta, được thành lập vào năm 1916 ở giữa hai làng Can Lộc và Văn Chấn thuộc Cát Hải. Xưởng có 10.000 chum loại 400kg đựng chượp để lâu năm mới đem nấu. Nước mắm Vạn Vân được chế biến từ ba loại cá: Cá Quân một loại cá xác- đin, chỉ đánh được vào tháng 5, tháng 6 hàng năm, cho ra nước mắm thượng hảo hạng; cá nhâm có nước mắm loại hai; các ruội có nước mắm loại ba. Có câu ca về những sản vật ngon nổi tiếng Bắc Kỳ: Dưa La, húng Láng, nem Báng, tương Bần, nước mắm Vạn Vân, cá rô đầm Sét,...
Ông bà Vạn Vân có hai con trai hai con gái. Con trai cả là Đoàn Đức Trình. Người con trai thứ hai, Đoàn Đức Chuẩn (nhạc sĩ Đoàn Chuẩn) lại say mê âm nhạc. Ngoài cửa hàng bên sông Hồng, ông bà Vạn Vân mua riêng cho Đoàn Chuẩn biệt thự số 9 Cao Bá Quát Hà Nội. Đoàn Chuẩn xây rạp Đại Đồng và lập gánh hát Lúa Vàng. Ông là nhạc công ghita Haoai xuất sắc và sáng tác một số ca khúc, trong đó có nhạc phẩm "Thu quyến rũ" nổi tiếng.
Trước cách mạng tháng Tám một thời gian, ông Vạn Vân qua đời. Toàn quốc kháng chiến bùng nổ, Đoàn Đức Trình lên chiến khu tiếp tục công tác trong tổ tài chính của Nguyễn Lương Bằng. Bà Vạn Vân ở lại Cát Hải duy trì công việc của hãng. Những năm 1950, 1953 là thời gian cực thịnh của hãng Vạn Vân. Ngoài các cửa hàng, hãng còn có đoàn xe ôtô vận tải.
Hoà bình lập lại, Đoàn Đức Trình từ chiến khu trở về tiếp thu cơ sở Vạn Vân thay mẹ. Tuy chỉ đứng chủ hãng có bốn năm, sau này Đoàn Đức Trình vẫn bị quy là tư sản. Tháng 10/1959 thực hiện chính sách cải tạo công thương nghiệp tư bản tư doanh, Đoàn Đức Trình cùng 54 hộ tư sản và tiểu chủ sản xuất nước mắm khác ở Cát Hải, trong đó tài sản của Vạn Vân chiếm đại đa số. Quy trình sản xuất của xí nghiệp cũng tiếp nhận từ quy trình của Vạn Vân. Đoàn Đức Trình được cử làm phó Giám đốc xí nghiệp. Cái tên Vạn Vân mất từ đó.
Tuy nhiên tiếng tăm Vạn Vân không hề mất. Năm 1975 toàn bộ vốn cố định và lưu động của gia đình Vạn Vân coi như hết. Gia đình chấm dứt việc hưởng lợi tức. Cũng năm này Đoàn Đức Trình phát biểu trên Đài tiếng nói Việt Nam về chính sách cải tạo tư sản, góp phần vào việc cải tạo tư sản ở miền Nam. Năm 1977 Đoàn Đức Trình về hưu, chuyển lên Hà Nội sống cùng gia đình Đoàn Chuẩn. Năm 1989 ông mất ở Hà Nội.
Phạm Văn Phi- Chủ hãng ôtô nổi danh
Ông Phạm Văn Phi xuất thân từ một gia đình nông dân nghèo ở làng Lâm Động, huyện Thuỷ Nguyên, Hải Phòng. Tuổi thiếu thời, Phạm Văn Phi đã sang Hải Phòng học việc trong các xưởng thợ để kiếm sống và trở thành thợ giỏi, có óc sáng tạo. Có lần, Cảng Hải Phòng có một cần cẩu lớn, hiện đại gọi là cần cẩu vàng bị hỏng hóc không hoạt động được, thợ của Cảng bó tay, trong khi nhu cầu bốc dỡ hàng đang cần gấp. Giám đốc Cảng sốt ruột bèn hứa ai chữa được cần cẩu sẽ được thưởng. Thợ Phi nhận xin sửa thử, kết quả sau khi cặm cụi mày mò, cần cẩu vàng hoạt động trở lại trước sự ngạc nhiên của chủ và các bác thợ già. Một lần, chủ nhất mỏ than Hồng Gai có chiếc két sắt đựng tiền bị hóc khoá không thể nào mở được. Loại khoá két bạc vốn rất phức tạp, ít thợ sửa được Phạm Văn Phi cũng nhận sửa và thành công. Hai lần sửa chữa cơ khí phức tạp thành công, Phạm Văn Phi không chỉ nổi tiếng khéo tay, giỏi nghề mà còn được trả công và khoản tiền thưởng hậu.
Có chút vốn liếng và tay nghề, ông vào Vinh mở cửa hiệu sửa chữa ô tô mang tên Phạm Phi. Nhờ giỏi tay nghề, trọng chữ tín, thương yêu những người giúp việc cùng cảnh áo ngắn nên hiệu Phạm Phi đắt khách, làm ăn phát đạt. Vì vậy, ông có điều kiện mở rộng xưởng cơ khí sửa chữa, sau lại sắm được ô tô hoạt động trên các tuyến đường Vinh- Huế- Đà Nẵng- Đà Lạt và Vinh- Savanakhét (Lào). Lúc phát đạt nhất, hãng xe Phạm Phi có đến 43 đầu xe chạy; bảy, tám chục công nhân, phần đông là con em họ hàng người làng Lâm. Hãng này ngày ấy đã làm một con đường ở thành phố Vinh, được gọi là đường Phạm Phi.
Ròng rã 20 năm (1908- 1928) kiên trì lao động kinh doanh, từ một công nhân trở thành một chủ hãng lớn ở miền Trung. Nhưng vào thời kỳ kinh tế khủng hoảng- năm 1930 ông phải bán cả xí nghiệp cho nhà tư bản Bạch Thái Bưởi. Sau khi phá sản, ông đau yếu rồi qua đời. Gia đình ông có cảm tình với phong trào cách mạng, con trai ông là Phạm Văn Ngự tham gia cách mạng trong cao trào kháng Nhật cứu quốc ở quê nhà, xây dựng nhóm Việt Minh ở Lâm Động. Cháu ông là Nhà điêu khắc Phạm Ngọc Lâm. Và chắt ông là ca sĩ Lâm Phương hiện nổi tiếng ở Hải Phòng.
Quảng Thịnh- Rừng khăn mũ
Ông Quảng Thịnh sinh năm 1908 tại Đa Ngưu, Mỹ Văn, Hưng Yên trong một gia đình giáo học. Năm 19 tuổi ông theo người anh họ xuống Hải Phòng học nghề làm mũ, ông học sáng dạ và thiết kế được nhiều kiểu khăn mũ mới với mẫu mã rất đẹp. Sau khi học thành nghề, năm 1939, ông mở một cửa hàng và xưởng thợ ở phố Khách, Hải Phòng. Bấy giờ mũ ni-e và khăn xếp đang là mốt của giới công chức và nam nữ tân tiến thành phố. Cửa hàng đắt khách đến mua buôn và mua lẻ. Xưởng thợ khăn mũ đông người làm và lương công nhật rất sung túc, vì thế có câu thơ:
Muốn ăn cơm tám với giò
Lấy chồng thợ mũ chẳng lo lắng gì.
Vua Bảo Đại cùng Nam Phương Hoàng Hậu xuống Hải Phòng du ngoạn và ra Đồ Sơn nghỉ ngơi. Ông Quảng Thịnh được Tòa thị chính thành phố đặt làm một chiếc khăn xếp cầu kỳ tặng Nam Phương Hoàng Hậu. Nam Phương Hoàng Hậu rất thích và gửi lời khen ngợi. Cửa hàng của ông Quảng Thịnh lấy quảng cáo "Rừng khăn mũ", bán buôn bán lẻ khắp miền Duyên Hải. Các thương lái từ Quảng Yên, Hải Dương, Hưng Yên, Nam Định, Thái Bình,... tấp nập về lấy mũ và khăn của ông mang đi bán khắp vùng miền. Gia đình ông Quảng Thịnh thông gia với gia đình ông Phú Hà. Đám cưới con gái đầu của ông Quảng Thịnh lấy con trai ông Phú Hà to nhất thời bấy giờ.
Chiến tranh chống Mỹ, ông Quảng Thịnh sơ tán lên Kim Thành, Hải Dương và mở cửa hàng khăn mũ tại chợ Giải. Bà con đến nay còn nhớ ông cụ cao lớn với chòm râu trắng làm mũ và bán mũ phục vụ bà con rất ân tình. Hòa bình lập lại, ông về Hải Phòng tham gia sản xuất kinh doanh khăn mũ và hoạt động công thương xã hội tích cực. Năm 1980, ông Quảng Thịnh vào Sài Gòn chơi, rồi mất sau một cơn cao huyết áp. Các con trai và con gái của ông là giáo viên, kỹ sư, cán bộ đoàn thể... Chỉ tiếc là không ai nối nghiệp làm mũ của ông nữa.
Lê Văn Thược- Kinh doanh địa ốc
Phố Lê Chân, Hải Phòng ngày trước có tên là Nam Sinh- Lê Văn Thược. Còn có tên gọi là ngõ Nghè vì đầu phố có đền Nghè thờ bà Lê Chân. Ông Lê Văn Thược là nhà thầu khoán kiêm điền chủ và kinh doanh địa ốc năm xưa.
Cuối thế kỷ 19 ở xã Ông Đình, huyện Khoái Châu, tỉnh Hưng Yên có một gia đình nông dân nghèo sinh được ba người con gái. Vì không thể nuôi nổi các con, họ đã phải đem một đứa ra Hà Nội bán. Đó là Lê Thị Tâm. Nhớ nhà, sợ hãi cuộc sống xa lạ, ngay đó Tâm đã trốn khỏi nhà chủ. Một người đàn bà tốt bụng nhận Tâm về làm con sen. Không được đi học nhưng cô được bà dạy không những đọc thông viết thạo mà còn biết cả chữ nho. Tâm càng lớn lên càng xinh đẹp. Cô được nhiều người để ý, sau đó thành vợ chủ hãng Nam Sinh ở Hải Phòng, một người Pháp làm nghề thầu khoán, đại diện cho một hãng thầu ở Pháp. Lê Thị Tâm được gọi là bà Nam Sinh từ đó.
Có một người đàn ông khác cũng thầm yêu trộm nhớ bà Nam Sinh, đó là... anh bồi của ông bà chủ, tên là Lê Văn Thược. Ông Thược quê ở làng Mọc, tỉnh Hà Đông, nay là vùng cống Mọc, gần Ngã Tư Sở, Hà Nội. Một thời gian sau, người Pháp nọ hết hạn làm việc ở Đông Dương. Có lẽ ông ta đã có vợ con bên Pháp nên không thể đem người vợ Việt Nam về theo. Bà Nam Sinh đề đạt nguyện vọng nếu không thể sang Pháp thì cho mình được lấy ông Lê Văn Thược. Người chồng Pháp bằng lòng, không những vậy còn giao luôn hãng Nam Sinh cho hai người.
Bà Nam Sinh thành vợ ông Lê Văn Thược, từ đó ông Lê Văn Thược cũng được gọi là Nam Sinh. Được chính quyền khuyến khích tham gia vào việc phát triển đô thị, vợ chồng Nam Sinh liền vay tiền Địa ốc ngân hàng để xây nhà trên con đường mới được mở rộng trên cơ sở của ngõ Nghè cũ, chạy từ phố Cầu Đất sang phố Mê Linh. Người Hải Phòng có thói quen gọi ngõ phố bằng tên những người đầu tiên xây nhà hoặc có mặt ở đấy nên gọi con phố mới mở này được gọi là phố Nam Sinh, sau đó được chính quyền thành phố chính thức hoá, lèo thêm "dit Le Van Thuoc", có lẽ để người ta khỏi lầm với ông chủ hãng Nam Sinh cũ nay đã về Pháp.
Người Pháp phân biệt: Boulevard là đại lộ, Avenue là phố lớn, Rue là phố nhỏ, Route là đường. "Rue Nam Sinh dit Le Văn Thuoc" thuộc loại phố nhỏ, chỉ dài khoảng 200m, đường và vỉa hè hẹp. Nam Sinh xây phần lớn nhà trên phố, vì để bán cho Hoa kiều hoặc cho họ thuê. Trường nữ học trên phố, nay là Trường tiểu học Nguyễn Thị Minh Khai, cũng do Nam Sinh xây theo thiết kế và đầu tư của chính quyền thành phố. Ngày 20/10/1946, Chủ tịch Hồ Chí Minh đi thăm Pháp về, để đảm bảo an toàn cho Bác, tránh xa nơi quân Pháp chiếm đóng, tổ chức đã bố trí Bác nghỉ trong một căn phòng của trường này.
Xã Hoà Nghĩa thời ông bà Nam Sinh thuộc tổng Tư Thuỷ. Nhân dân Hoà Nghĩa ngày nay nhiều người vẫn nhớ "Bài thơ lập ấp", tương truyền đã ra đời gần 100 năm nay, tác giả là ông giáo Móm. Mấy câu đầu bài thơ như sau:
Tỉnh Kiến An có làng Hoà Nghĩa
Nhác trông xem phong cảnh hữu tình
Hỏi ra từ ông Nam Sinh
Xuất tài, xuất lực lập thành xã dân...
Cứ như bài thơ thì hồi đầu thế kỷ 20 vùng Hoà Nghĩa khá hoang vắng. Nhân dân Hải Phong, Hoà Nghĩa được hỏi đều mang ơn ông bà Nam Sinh. Ông là một người khá uy tín trong xã hội nên đã được bầu làm nghị viên Viện Dân biểu Bắc Kỳ. Năm 1932 ông Nam Sinh- Lê Văn Thược mất và an táng tại Hoà Nghĩa.
CB