Kiến trúc đất Cảng vào xuân

Tin chung Trackbacks (0) Bản in góp ý (58)   


HOẠT ĐỘNG HỘI KIẾN TRÚC SƯ HẢI PHÒNG

Trong không khí rạo rực đón chào xuân mới Canh Dần 2010, ngày 04/ 02/ 2010, Hội Kiến trúc sư Hải Phòng tổ chức buổi gặp mặt giao lưu toàn thể Hội viên và bầu đại biểu đi dự Đại hội KTS Việt Nam khoá 8. Đến dự chung vui với các Kiến trúc sư Hải Phòng, có KTS Nguyễn Thúc Hoàng- Phó Chủ tịch Hội KTS Việt Nam; KTS Phạm Thăng- Chánh VP Hội KTS VN, Ông Đinh Văn Giáp- Chủ tịch Hội Xây dựng Hải Phòng; Ông Đào Viết Tác- Chủ tịch Hội Môi Trường HP; Ông Nguyễn Ngọc Thành- Chủ tịch Hiệp hội Bất động sản HP; Ông Nguyễn Ngọc Thao- Phó Chủ tịch TT kiêm Tổng thư ký Liên hiệp các Hội khoa học kỹ thuật HP; Nhà biên kịch điện ảnh Tô Hoàng Vũ- Chủ tịch Hội LHVHNT HP; Hoạ sĩ Quang Ngọc- Phó Chủ tịch Hội LHVHNT HP; Nghệ sĩ ưu tú Nguyễn Đăng Toàn - Phó Chủ tịch Hội LHVHNT HP; Nhạc sĩ Ngọc Hải- Chủ tịch Hội Văn nghệ Dân gian HP; Nghệ sĩ Thuý Hậu- Phó Chủ tịch Hội Múa HP; Cùng toàn thể Ban chấp hành và các Kiến trúc sư Hội viên Hội Kiến trúc sư thành phố Hải Phòng. Đến dự và chung vui còn có các đồng chí phóng viên đài PTTH HP; Các nghệ sĩ đoàn Cải lương Hải Phòng.

Sau phần tuyên bố lý do và giới thiệu đại biểu của KTS Nguyễn Minh Trí- UVBCH, Chủ nhiệm CLB Kiến trúc Trẻ HP; KTS Võ Quốc Thái, Chủ tịch Hội KTS HP lên phát biểu tổng kết những hoạt động của Hội KTS Hải Phòng trong năm 2009 và đề ra hướng hoạt động năm 2010 của Hội KTS HP. Bài báo cáo nhấn mạnh:
Sau Đại hội VI (nhiệm kỳ 2008-2013) được tổ chức vào ngày 14/12/2008 với 9 uỷ viên (trong đó có 6 uỷ viên tham gia lần đầu) Ban chấp hành Hội KTS HP đã trực tiếp điều hành và tham gia các hoạt động sau: Tham gia Hội nghị BCH Hội Kiến trúc sư Việt Nam lần V- Khoá VII và Hội thảo kiến trúc Nông thôn Việt Nam tháng 12/2008 tại Ninh Bình. Đồng tổ chức Hội nghị BCH Hội Kiến trúc sư Việt Nam lần VI- khoá VII và Giao lưu giữa Hội KTS Hải Phòng với KTS Toàn quốc vào ngày 25/5/2009 tại Đảo Cát Bà. Tham gia Đại hội Hội LHVHNT Hải Phòng Khoá VII tháng 06/2009 và có 2 đồng chí tham gia BCH Hội LHVHNT Hải Phòng là KTS Võ Quốc Thái và KTS Nguyễn Minh Trí (KTS Nguyễn Minh Trí được bầu là uỷ viên Ban thường vụ Hội LHVHNT Hải Phòng khoá VII). Thành lập Đoàn Đại biểu dự Hội trại KTS trẻ Toàn quốc lần thứ III tại Buôn Mê Thuột. Qua kết quả Hội trại Chủ tịch hội KTS VN đã có QĐ số 93/QĐ-KT ngày 2/11/2009 công nhận ban điều hành các CLB KTS Trẻ Toàn quốc trong đó Hội KTS Hải Phòng có KTS Nguyễn Minh Trí tham gia. Tham gia Hội nghị BCH Hội KTS Việt Nam lần thứ VII và lễ trao giải thưởng Cuộc thi Nhà ở Nông thôn tại Hải Dương ngày 12/12/2009.

Hoạt động của các Chi hội Kiến trúc:
Chi hội Công ty HCDC có 27 hội viên. Năm 2009 Chi hội đã có một số hoạt động như: Dự thi Trụ sở Tập đoàn VSHIP-Singapo: 03 phương án. Dự thi Trung tâm Dịch vụ xổ số Hải Phòng tại Cát Bà: 01 phương án. Và một số công tác khác như Tham quan nước ngoài và một số đô thi trong nước, tham gia bài viết cho Tạp chí KTVN. Trong năm 2009 Chi hội này có 7 KTS bảo vệ Luận án Thạc sỹ tại Trường ĐHKT Hà Nội.
Chi hội Viện Qui hoạch có 16 hội viên. Đây là Chi hội có đặc thù chuyên làm công tác Qui hoạch của Thành phố và Tham mưu cho Sở Xây dựng và UBND Thành phố thực hiện chức năng Quản lý Nhà nước về Qui hoạch Xây dựng. Trong số 16 hội viên năm 2009 có 4 đ/c bảo vệ luận án Thạc sĩ đưa số Thạc sĩ KTS trong viện lên 8 đ/c. Năm 2009 Chi hội đã hoàn thành một số Đồ án lớn trọng điểm như: Điều chỉnh Qui hoạch chung Xây dựng Thành phố đến năm 2025 tầm nhìn đến năm 2050 được thủ tướng phê duyệt tại Quyết định số 1448/QĐ-TTG ngày 16/09/2009. Qui hoạch chi tiết các Thị trấn như Vĩnh Bảo Khu B cụm CN Tân Liên; Thị tứ Hoà Bình và Cụm CN Tiên Cường; Mở rộng hè đường Lạch Tray; Huyện Đảo Bạch Long Vỹ; Phường Nam Hải; Phường Hùng Vương; Phường Dư Hàng Kênh; Phường Kênh Dương; Phường Vĩnh Niệm; Khu CN Thị trấn Tiên Lãng mở rộng; Khu du lịch Xuân Đám- Hiền Hào- Cát Bà; Khu CN Nam Đình Vũ; Khu CN Thâm Quyến- An Dương; Tuyến đường liên phường Tràng Cát- Hải An... đã được UBND Thành phố phê duyệt. Các đồ án Qui hoạch chi tiết đã hoàn thành đang trình duyệt gồm: Qui hoạch khu CN và đô thị Bến Rừng.; Qui hoạch các điểm đấu nối Quốc lộ 5; QHCT Khu nhà ở thu nhập thấp tại xã An Đồng, An Dương; QHCT Khu CN Ngũ Phú; QHCT Khu CN Cầu Cựu; QHCT Cụm CN Đa Phúc- Hưng Đạo. Công tác hợp tác quốc tế: Kết hợp với tư vấn Saman Hàn Quốc lập hồ sơ QHCT 1/5000 Khu đô thị mới Bắc Sông Cấm giai đoạn I.
Chi Hội Sở Xây dựng có 17 hội viên với nhiệm vụ tham mưu cho Sở Xây dựng và UBND Thành phố về công tác Qui hoạch và Quản lý Đô thị được biên chế trong các tổ chức: Văn phòng Sở, TT Tư vấn QHXD, Công ty Kinh doanh nhà, Ban quản lý CTPT Đô thị, TT thẩm định.
Chi hội các Công ty tư vấn có15 hội viên, bao gồm nhiều công ty tư vấn như: Công ty A&D; Công ty CP TV Thiết kế XD Đất Việt; Công ty TVXD Tài nguyên môi trường; Công ty XD số 3... đều là các KTS trực tiếp tham gia các công việc thiết kế kiến trúc trên địa bàn thành phố.
Câu lạc bộ Kiến trúc Mỹ thuật trẻ Hải Phòng trong năm qua đã có nhiều chương trình hoạt động sôi nổi. Trưng bày triển lãm các tác phẩm kiến trúc mỹ thuật. Tham gia hội trại kiến trúc trẻ toàn quốc tại Buôn Ma Thuột. Tham dự chương trình gặp gỡ mùa thu và hội thảo kiến trúc nông thôn tại Chí Linh Hải Dương. Tham gia diễn đàn "Không gian văn hoá" do Đài phát thanh và truyền hình Hải Phòng dàn dựng. Tổ chức cho hội viên tham gia các chương trình giới thiệu ứng dụng vật liệu xây dựng mới trong công tác thiết kế đô thị.

Hướng Hoạt động của Hội KTS HP trong năm 2010: Tăng cường công tác tổ chức, phát huy vai trò của các uỷ viên BCH và các chi hội cơ sở, thực hiện công tác phát triển hội viên. Quán triệt phương hướng, mục tiêu, nhiệm vị và chương trình hành động của TW hội nhiệm kì VIII sẽ được thông qua tại Đại hội đại biểu toàn quốc khoá VIII (2010-2015) vào tháng 4 năm 2010. Với tư tưởng và định hướng cơ bản là bằng mọi nỗ lực, thúc đẩy đưa kiến trúc VN phát triển nhanh, đúng hướng, bắt nhịp với xu hướng phát triển của kiến trúc theo yêu cầu và khu vực. Tiếp tục tăng cường công tác tham mưu, tư vấn, phản biện XH trong lĩnh vực QHXD, kiến trúc đô thị và nông thôn góp phần thực hiện nghị quyết thành uỷ là từng bước xây dựng bản sắc kiến trúc Hải Phòng. Đẩy mạnh chất lượng công tác nghiên cứu, thiết kế kiến trúc, qui hoạch ở các đơn vị cơ sở của hội. Mở rộng quan hệ hợp tác trao đổi, học tập trong nước và quốc tế nhất là với TW hội và các trường ĐHKT, các hội tỉnh bạn cũng như các hội trong Liên hiệp VHNT HP. Các mối quan hệ quốc tế sẵn có như các Tập đoàn Samon Hàn Quốc, Bi KensaHa Nhật Bản, Sing ga po, Trung Quốc, Cộng hoà Pháp...

Ghi nhận những thành tích của giới Kiến trúc sư HP, Ủy ban Nhân dân thành phố Hải Phòng đã tặng bằng khen cho Hội Kiến trúc sư Hải Phòng vì đã có nhiều thành tích xuất sắc trong hoạt động chuyên môn góp phần hoàn thành nhiệm vụ chính trị năm 2009. Ông Tô Hoàng Vũ, Chủ tịch Hội LHVHNT HP đã lên trao bằng khen của UBND TP HP cho Hội KTS HP. Ông Tô Hoàng Vũ có bài phát biểu đánh giá cao những hoạt động của giới Kiến trúc sư Hải Phòng trong thời gian qua cũng như động viên khích lệ hoạt động chuyên môn và hoạt động xã hội của các KTS đất Cảng trước một mùa xuân mới.

Chuẩn bị cho đại biểu đi dự đại hội KTS Việt Nam khoá 8 tổ chức vào tháng 04 năm 2010. Hội nghị đã bầu 11 đại biểu đi dự đại hội KTS Việt Nam khoá 8. KTS Nguyễn Thúc Hoàng- Phó CT Hội KTS VN đã có bài phát biểu ý kiến chỉ đạo hội nghị và chúc mừng năm mới Hội KTS Hải Phòng.
Trong chương trình tiệc giao lưu và sinh hoạt văn nghệ, các KTS đất Cảng cùng các văn nghệ sĩ và các nhà khoa học thành phố hoà chung lời ca tiếng hát, những vần thơ và những câu chuyện vui chung quanh hoạt động kiến trúc đời sống.

Một năm mới đã về trên thành phố Hải Phòng quê hương, các Kiến trúc sư đã chuẩn bị sẵn sàng cho mình một năng lượng mới đầy tình yêu nghệ thuật và trách nhiệm trong công tác thiết kế xây dựng công trình trên đất Cảng vào xuân.

Cát Biển

TIẾNG XUÂN

Thơ Trackbacks (0) Bản in góp ý (65)   


Tiếng xuân - Chùm thơ Nguyễn Cường


TIẾNG XUÂN

Cốc! Cốc! Cốc!
Tiếng gõ ngoài khung cửa
Xuân đã về trên những cánh mưa bay
Trời mây xám trảng cỏ non xanh biếc
Thúc chồi cây nhu nhú
Vũ điệu gày

Cốc! Cốc! Cốc!
Những hạt mầm trỗi dậy
Lớp vỏ khô đang nứt vỡ từng giây
Ngày tiếp nối những đêm dài toả rạng
Mùa giao mùa
Trời đất cũng đổi thay

Cốc! Cốc! Cốc!
Tự đáy lòng nao nức
Những vần thơ đã rực hương say
Tay nâng chén chạm vào mây ngũ sắc
Chuốc ngày xuân mê mải
Khát vọng đầy


THÁNG CHẠP

Tháng chạp muộn mà
Khói đồng xa nhạt nhoà mây xám
Vệt nắng đông hanh hao gò má rạn
Góc tre làng
Thấp thoáng tuổi thơ

Tháng chạp bao giờ cũng ngắn
Nghiêng giấc đêm nằm
Chấp chới âm dương
Chiều nắng tắt
Người về trong gió muôn phương

Ký ức thời gian
Chuyến tàu nhanh chạy vào dĩ vãng
Tháng chạp vội vàng
Vắng lặng trăng sao
Lẫm chẫm đào
Xoè lửa đón xuân sang
Chênh chao khúc hát giao thừa ...


NGHE HÁT Ả ĐÀO

Về nghe
câu hát cửa đình|
lời xa xưa
nỗi nhân tình hôm nay

Ngọt ngào
thấm giọt ca say
phách đào rộn rã
mà day dứt đàn

Nhịp chầu
sao khéo đa đoan
câu thơ như đã
muôn hàng ngọc rơi

Ngang mày
khúc hát đầy vơi
một vuông chiếu
một khoảng trời nổi nênh ...


THÁNG GIÊNG

Tôi đi tìm tháng Giêng
Đang ẩn hiện sau làn khói bạc
Lúa đồng xanh ngơ ngác|
Bụi mưa len lén bay lên

Tháng Giêng như lời hò hẹn|
Gọi mùa làm mới câu thơ
Quê hương tôi ngàn năm thương nhớ
Khoác lên mình màu áo tươi non

Tháng Giêng mở hội
Tiếng trống xưa dập dồn ký ức
Nắng lưng trời nhuộm biếc triền đê
"Người ơi người ở đừng về"

Bốn mùa luân lạc
Nhớ về bến quê
Cuộc sống trôi vèo năm tháng
Vẫn mải mê tìm niềm hy vọng tháng Giêng


CẢM TÁC XUÂN

Năm đã Tết
Ngày đã Xuân
Mưa đã bay ướt thầm mái tóc

Ngâm ngợi một vần thơ ngẫu hứng
Gợi ý về một cái nhìn mới mẻ
Sự đam mê. Giây phút đợi chờ

Con người
Gặp nhau trên phố
Những khuôn mặt nhìn nhiều hoá cũ
Ngỡ là quên... Chợt thấy lại mình

Cuộc sống
Bao thăng trầm biến đổi
Chuyện lòng, chuyện đời, chuyện ngoài vũ trụ
Bỏ vào năm cũ xa xôi

Mùa xuân đến rồi
Tất cả đổi thay. Tất cả đều làm mới
Chỉ những vết thương
Trở trời lại nhức.

NC

Thành phố và những cây cầu

Tin chung Trackbacks (0) Bản in góp ý (64)   


Hải Phòng là thành phố có rất nhiều những dòng sông đổ ra cửa biển. Và chính những dòng sông đó đã kiến tạo lên dáng vóc đô thị Hải Phòng ngày hôm nay. Đã có sông ắt phải có cầu, một nhà thơ từng viết: Và đôi bờ bên bồi, bên lở/ Cầu hoá thành lời xin lỗi của dòng sông. Hôm nay, CB xin giới thiệu đến các bạn bài viết của Tuấn Nguyễn, một tác giả Hải Phòng về những cây cầu trong lòng phố Cảng.

Thành phố và những cây cầu

Bởi những con sông cứ rủ nhau chảy vào lòng phố xá nên thành phố Hải Phòng có nhiều lắm những cây cầu. Ði đâu cũng thấy những cây cầu uốn mình như những cánh tay vươn dài, tạo thành vóc dáng khoẻ khoắn, phóng khoáng của một thành phố nơi đầu sóng ngọn gió.

Những ai từng gắn bó với Hải Phòng, có lẽ ít nhiều đều mang trong mình dấu ấn về những cây cầu. Ðiểm lại mới thấy, những cây cầu là lịch sử của Hải Phòng, gắn liền với bao thăng trầm, đổi thay của thành phố. Không chỉ nối đôi bờ sông, những cây cầu còn nối liền quá khứ - hiện tại của mảnh đất này. Chẳng hạn: hiện thân cho quá khứ xa xôi là chiếc cầu Quay với những thanh rầm sắt cũ kỹ nằm đó vài chục năm và cái tên luôn gợi lên chuyện cũ: ngày xưa cầu có thể chuyển động quay ra, quay vào cho tàu bè qua lại trên khúc sông này.

Gần với thời điểm hiện tại hơn chút nữa là cây cầu Lạc Long mới khang trang thay thế cho cây cầu cũ nhỏ bé bắc qua dòng Tam Bạc và khu phố cổ lam lũ một thời. Còn gắn liền với hình ảnh một Hải Phòng hiện đại trong thế kỉ 21 có cầu Bính, cầu Kiền... những cây cầu dây văng hiện đại nhất, nhì miền Bắc, đang nghiêng mình gánh vác công việc của những chuyến phà vất vả chinh phục dòng sông Cấm lâu nay...

Thế đấy, những cây cầu thực sự là minh chứng sống động về cuộc sống không gian của thành phố qua các thời kỳ. Những "cánh tay" ấy mọc lên mỗi ngày một nhiều và ngày càng dài rộng mà mừng, bởi điều ấy chứng tỏ thành phố thân yêu đang vươn vai lớn dậy không ngừng...

Với ai, kỉ niệm về những cây cầu đôi khi giản đơn nhưng thật khó quên. Ðó là những chiều hè gió lộng, được đứng bên thành cầu Bính ngắm thành phố từ trên cao. Trong ánh hoàng hôn đỏ rực, thành phố thật thơ mộng và thanh bình với những mái ngói lô xô, hàng cây xanh mướt và những nhánh sông uốn lượn chảy quanh..

Hay những buổi tối thư thả dạo xe trên phố, ngắm ánh đèn đường đang thẳng tắp bỗng uốn lượn theo hình dáng những cây cầu, rồi hắt xuống dòng sông, tạo thành vũ điệu ánh sáng kỳ ảo, lung linh. Có những lúc phải tạt vào gầm cầu Vượt trên đường Lạch Tray tránh cơn mưa bất chợt. Lúc ấy, cây cầu trở thành mái vòm vững trãi, che chở cho bao người qua phố. Những buổi thuỷ triều dâng ngập con phố nhỏ bên dòng Tam Bạc, lại nhớ cái thời thơ dại cùng đám bạn liều lĩnh trèo lên thành cầu Lạc Long rồi nhảy xuống tắm sông...

Giờ đây, mỗi lần đi xa về, nhìn thấy bóng dáng những cây cầu vượt quen thuộc ở cửa ô thành phố, trong ai lại ngập tràn cảm giác thân thương như đã gặp lại người thân.

Tuấn Nguyễn

Thơ bên dòng sông Cấm

Tin chung Trackbacks (0) Bản in góp ý (70)   


Chiều ngày 28/01/2010, trong Quán Âm nhạc, bên dòng sông Cấm mơ mộng; CLB Thơ Văn hoá Doanh nhân Hải Phòng đã tổ chức chương trình Giao lưu Thơ Nhạc đón chào năm mới 2010. Tới dự có các đồng chí lãnh đạo Hội Văn hoá Doanh nhân Hải Phòng. Đại diện CLB Hoa Biển, CLB Thơ Làng Văn hoá Vân Tra, CLB Quốc tế vũ DN, CLB Ảo thuật HP, Báo Hải Phòng,... Cùng hơn 40 Hội viên CLB Thơ Văn hoá Doanh nhân Hải Phòng.
Sau bài phát biểu tổng kết hoạt động năm 2009 và đề ra phương hướng hoạt động năm 2010 của Doanh nhân Nguyễn Ngọc Hiển, Chủ nhiệm CLB Thơ Văn hoá Doanh nhân; Nhà văn Đình Kính, Chủ tịch Hội Văn hoá Doanh nhân đã có bài phát biểu chào mừng. Tiếp theo Nhà thơ Minh Trí, Phó Chủ nhiệm CLB Thơ Văn hoá Doanh nhân HP đã dẫn một chương trình sinh hoạt thơ nhạc đầm ấm.
Sau đây CB xin giới thiệu một chùm thơ đọc bên dòng sông Cấm của các tác giả tham gia giao lưu trong chương trình trên.

THƠ BÊN DÒNG SÔNG CẤM

Ngọc Hiển

NHỊP CẦU MÙA XUÂN

Cái gì cũng của em thôi
cả núi sông, cả đất trời và anh
cái gì cũng của riêng mình
cả mùa xuân cả biển tình mênh mông
tình yêu là nhịp đường vòng
mỗi đoạn cua, mỗi tấc lòng lo âu
tình yêu là phép nhiệm mầu
để anh nối lại nhịp cầu yêu thương

Lương Thế Phiệt

SÔNG QUÊ

Ta về sông cỏ ngậm sương
cánh cò nhặt nắng còn thương quê nghèo
nước từ đâu nước gieo neo
thuyền từ đâu một mái chèo bơ vơ
hỏi xem chốn cũ bây giờ
còn ai vật lộn bến bờ sông quê
và ai cúi mặt khi về
những ai ăn cháo rồi chê bát sành
đồng làng vẫn cứ ngát xanh
đường cày lật đất còn tanh máu người
thị thành vẫn một chốn chơi
một cơn cốc chén một đời nông dân
sông quê giờ đã cạn dần
đồng trong ngoài bãi mấy lần đổi thay
nói lời như mượn như vay
giữa trưa vọng tiếng điếu cày hụt hơi

Minh Trí

NGOẠI VI

Những con đường chất tải nắng gió miền sông
cho tôi dư vị ngạt ngào sương khói
cho bãi sú vật mình ra biển
hanh hao nỗi niềm con cá, con tôm
tôi neo ở ngoại vi ngôi nhà nhỏ
để chiều chiều nghe gió nghe mưa
đón nỗi buỗn từ muôn con sóng
dạt dào nỗi đón đưa
những vò rượu góc nhà nhớ bạn, nhớ phố
nhớ cơn say vào tranh
nhớ mắt hiền lâu ngày xa vắng
và gió tóc mong manh
đón cơn mưa không vô tình để nhớ
đón buổi chiều yên tĩnh ngoại vi
tôi là cây neo mình bãi sú
biết miền sông sẽ nói điều gì.

Vũ Quốc Thân

ĐỢI

Trăng tàn thu đợi nhớ em
chén tình này cạn khát thèm ngày xưa
nhớ chiều đôi mắt mùa mưa
ướt nhoè đẫm lệ gió đưa nắng chiều
đời anh khổ một chữ yêu
thế rồi để lẻ cánh diều bơ vơ
từng đêm thức đợi với chờ
đi trong cõi mộng bao giờ gặp nhau.


Phạm Thanh Cải

NHÀ TÔI

Về nhà
chiều đổ bóng qua
khép ngày
mưa trút
nền nhà lênh lang...
mưa rơi
lộp bộp trên màn
ngủ rừng
tưởng vậy
hóa gian nhà mình....


Đinh Thường

CÒ LẺ

Cò ơi, một nửa đi đâu
mà mày đơn lẻ buồn rầu bến sông
về đi mà tránh mùa đông
kiếm lấy tấm chồng cho nó có đôi
mai ngày đàn đống sinh sôi
cả nhà vui vẻ quãng bồi bến sông
về đi mà kiếm tấm chồng
đừng cô quạnh thế đau lòng thơ tao.

Hoàng Khôi

EM MÙA XUÂN

Khi chạm vào tay em
biết mùa xuân đang đến
bóng dáng hư vô hiển hiện
lấp đầy khoảng trống bấy nay
khi tay trong tay
mùa xuân xà vào tận cửa
em cận kề, đau còn xa xôi nữa
bàng hoàng tỉnh giấc mơ say
có em mùa xuân này
như trong tay mùa xuân vĩnh cửu
điều giản dị mà sao anh không hiểu
em mùa xuân.

Đỗ Bá Cung

EM TÔI

Dòng đời xuôi ngược long đong
vai gầy em gánh nặng cong đường chiều
thân tằm rút ruột để yêu
cánh chim mê mải trải nhiều bão giông
chân trần bước vẹt bờ sông
đường cày vặn cả cánh đồng nghiêng theo
nửa đời vất vả gieo neo
con nằm ngóng mẹ ngặt nghèo tiếng ve
lời ru ướt đẫm chân tre
mồ hôi nước mắt cày xè hàng mi
lãng quên cả tuổi đương thì
đôi môi cũng vội cả khi em cười

Nguyễn Ngọc Thịnh

BẾN

Sóng lăn tăn, thuyền chống sào
cây đa toả nắng neo vào bến sông
dãi dầu nắng hạ mưa dông
chia cùng nhau nỗi ngóng trông sớm chiều
tròn trăng có phải vì yêu
chờ em xuống bến ngỏ lời lứa đôi
năm mươi năm bước nẻo đời
tôi về làm khách quê tôi, một thời
cây đa già vẫn xanh tươi
rễ bành chiếc ghế đợi người hôm qua
em, người xưa, em, người qua
neo tôi lại bến quê nhà, ngẩn ngơ.

TDN

Đất Cảng chiều cuối đông

Tin chung Trackbacks (0) Bản in góp ý (90)   


ĐẤT CẢNG CHIỀU CUỐI ĐÔNG

Ghi chép của Cát Biển

Sau những hò hẹn và commen, chiều thứ sáu ngày 22 tháng 1 năm 2010, nhóm anh em blogger Sài Gòn đã về đến đất Cảng.

Làng văn hóa Vân Tra, Hải Phòng chiều cuối đông được phủ một màn mưa mỏng như tấm khăn voan buông nhẹ xuống mặt hồ. Ngôi nhà thủy tạ bồng bềnh sóng nước sáng bừng dòng chữ: "Chào mừng họp mặt nhóm blogger thành phố Hồ Chí Minh và Hải Phòng".

Và kìa, anh em blogger Sài Gòn đã đến, từ trong ôtô bước ra là Nhà thơ Hoa Huyền, Nhà văn Hoàng Đình Quang, Luật sư- Nhà báo Phương Hà,... Phía Hải Phòng có Nhà văn Đình Kính, Kiến trúc sư- Nhà thơ Minh Trí (Cát Biển), Nhà thơ Lương Thế Phiệt, Nhạc sĩ Đắc Long, Nhà thơ Đỗ Bá Cung, Nhà thơ Đinh Thường,...

Gặp nhau trong diễn đàn ảo đã lâu, nay gặp nhau thật sự trong đời, ai cũng có cảm giác hồi hộp và mừng mừng tủi tủi. Những cái bắt tay ấm nồng, những hỏi han thân mật. Blogger Lương Thế Phiệt vốn là cán bộ huyện An Dương, nay là Trưởng làng văn hóa xã Vân Tra say sưa giới thiệu với các bạn về mảnh đất quê hương đầy quyến rũ của mình. Không gian cuộc gặp gỡ hôm nay do anh thiết kế thật hợp tình, hợp cảnh. Anh đã xuất bản tập thơ "Thức với miền quê" với những câu thơ thật thấm thiết: Người quê hát một lời quê/ Rạ rơm cũng nặng lời thề thuỷ chung...

Những ly rượu quê rót lên đầy thương mến, mọi người cùng chúc mừng và uống cạn cho vợi bao nhớ nhung xa cách đến với ngày hôm nay. Nhạc sĩ Đắc Long ôm ghi ta say sưa hát những bài ca trữ tình và những bản nhạc do chính anh sáng tác: Có người phải lòng giấc mơ/ Cho nên đến tận bây giờ mới yêu... (Phải lòng- nhạc: Đắc Long, thơ: Minh Trí)

Blogger Hoa Huyền có thật nhiều kỷ niệm với Hải Phòng, vợ anh là con gái đất Cảng. Hoa Huyền sinh ra ở đất nhãn Hưng Yên, hiện nay gia đình anh sinh cơ lập nghiệp trong thành phố Hồ Chí Minh. Về với Hải Phòng, Hoa Huyền tâm sự như anh đang về với quê hương thứ hai của mình: Xa quê trĩu nặng lòng nhung nhớ/ Chốn ấy trong lòng mãi ngóng trông...

Nhà văn Đình Kính hiện vừa là Chủ tịch Hội Nhà văn Hải Phòng, vừa là Chủ tịch Hội Văn hóa Doanh nhân Hải Phòng. Công việc bộn bề là vậy, nhưng không chỉ sáng tác nghệ thuật tích cực mà anh luôn dành thời gian cho bạn bè văn chương và... khiêu vũ. Có lần đang lúc công việc bộn bề, mọi người không biết Đình Kính đi đâu, gọi di động không được. Tìm mãi, thì chợt thấy anh đang ngồi thiền trong... blog Hoàng Đình Quang. Thì ra buổi chiều Đình Kính bay vào Sài Gòn, nhậu xong thì tối ấy ngồi thiền trong nhà Hoàng Đình Quang và bị "chộp hình" đưa tắp lự lên blog cho anh em Hải Phòng "tìm thấy", thế mới hay thông tin từ blog nhạy biết chừng nào.

KTS- Nhà thơ Minh Trí là Giám đốc Công ty Đất Việt. Mơ ước được gặp gỡ và giao lưu với các bạn blog đã lâu, nay mới có dịp hàn huyên tâm sự. Những kỷ niệm ùa về trong những entry, từng commen của bạn bè thương mến. Đúng lúc này, chị Bạch Dương từ Hà Nội gọi điện về trò chuyện thân mật với anh em blogger. Ngày mai là ngày vui của gia đình chị, và cũng là ngày anh em blogger gặp nhau trong đám cưới con gái chị Bạch Dương.

Luật sư- Nhà báo Phương Hà vừa bay từ Hàn Quốc về tới Hà Nội và đi ngay cùng đoàn xuống giao lưu với Hải Phòng. Những câu thơ lục bát anh viết đau đáu tình quê tình người: Tóc giờ trắng khói thuốc lào/ Đời giờ trắng giấc chiêm bao mất rồi... Và: Oan khiên nghiêng ngả đứng nằm/ Bao nhiêu số phận tháng năm trụi trần/ Bạc tình nặng đến ngàn cân/ Một giây sấp ngửa mấy lần âm dương...

Nhà thơ Đinh Thường hiện là trung tá biên phòng cảng Hải Phòng. Năm qua anh xuất bản tập thơ "Hoa dã quỳ", gần đây nhất anh vừa nhận giải A cuộc thi thơ về Người lao động đất Cảng do Cung VH LĐHN Việt Tiệp tổ chức. Anh thường xuyên vào mạng vnweblog và viết commen cho các blogger.

Blogger Hoàng Đình Quang tâm sự, anh chính gốc quê Đồ Sơn, Hải Phòng. Họ Hoàng Đình của anh ở Đồ Sơn nổi tiếng huấn luyện trâu chọi và mỗi khi: Dù ai buôn đâu bán đâu/ Mùng chín tháng tám chọi châu thì về... thì thường là họ Hoàng Đình nhà anh có trâu lọt vào trận chung kết. Anh sôi nổi mạn bàn về blog và những xử lý kỹ thuật trên trang blog. Có thể thấy trang blog Hoàng Đình Quang là một trong những trang blog đẹp và phong phú về hình thức cũng như nội dung nhất trên vnweblog.

Nhà thơ Đỗ Bá Cung hiện là Chủ nhiệm CLB thơ Làng văn hóa Vân Tra. Người làng Vân Tra yêu thơ lắm, có thể ví như Làng Chùa yêu thơ ở Hà Tây vậy. Mỗi khi Hội làng, ngày lễ Tết, CLB Thơ Làng văn hóa Vân Tra sinh hoạt thơ sôi nổi. Thật đông bạn bè thi hữu bốn phương về làng tham dự, một phần cũng vì tính hiếu khách, yêu thơ của người làng Vân Tra.

Thời gian trôi qua thật nhanh và màn đêm đã buông chùng mặt hồ làng Vân Tra. Rượu ngon bạn hiền với những món ăn quê mùa hấp dẫn hòa cùng những câu thơ bài hát của các blogger trong ngày gặp gỡ. Tất cả lặng đi khi anh Hoàng Đình Quang bật điện thoại di động cho mọi người nghe bài hát về quê hương Cửa Lò, (lời: Phương Hà- nhạc: Hoàng Đình Quang).

Vào thăm nhà bloggr Lương Thế Phiệt, một ngôi nhà kiến trúc mới an khang với những trang trí đẹp chứng tỏ gu thẩm mỹ về văn hóa Việt của chủ nhân. Gia đình anh đón đoàn thật chu đáo và có nhã ý mời đoàn nghỉ lại đêm nay. Nhưng một phần vì anh đang phải lo việc hiếu, một phần các bloggre Sài Gòn muốn vào lòng phố Cảng, nên Minh Trí và Đinh Thường đảm nhiệm việc chuẩn bị giấc ngủ ngon cho các blogger Sài Gòn ở đất Cảng đêm nay.

Chia tay Làng văn hóa Vân Tra, đoàn xe ôtô đưa các blogger Sài Gòn và Hải Phòng vào thăm phố Cảng. Thành phố vào đêm lên đèn với lung linh sắc màu, ôtô đi qua đại lộ Lê Hồng Phong, một trong những đại lộ đẹp nhất Hải Phòng hiện nay. Qua trung tâm thành phố, đoàn dừng lại ở Nhà khách Ủy ban. Một bàn nước được chuẩn bị trong hầm trà với những câu chuyện về đất Cảng xưa và nay thật rôm rả.

Cuộc vui chừng như vui hơn khi có sự xuất hiện của blogger Lâm Hải Phong. Lâm Hải Phong vốn sống và làm việc ở Ba Lan, anh về Hải Phòng được mấy năm nay và là một trong những blogger đầu tiên của mạng vnweblogs. Anh vui vẻ thông báo, sau một thời gian kiên trì rèn luyện, các con anh đã nói thành thạo tiếng... Việt. Cháu trai lớn nhà anh hiện đang là học sinh giỏi trường Thái Phiên và là một lớp trưởng năng nổ.

Rồi sự có mặt góp vui của các cấp chỉ huy bộ đội biên phòng cảng Hải Phòng. Sự xuất hiện góp vui của vợ chồng doanh nhân Ngô Thai Sắc. Hầm trà như được hâm nóng lên trong cái lạnh dầm dề của mưa bụi ngoài trời đêm.

Chia tay các blogger Sài Gòn- Hải Phòng trong bao niềm yêu mến. Hẹn những cuộc gặp gỡ giao lưu thú vị từ thế giới ảo bước ra cuộc đời thực đầy tình cảm. Và dường như mọi người đều cảm nhận thấy cuộc đời còn những ý nghĩa và thân thương biết chừng nào...

CB

Bức tranh đêm

Thơ Trackbacks (0) Bản in góp ý (85)   


Bức tranh đêm - Chùm thơ Minh Trí

Bức tranh đêm


T
rước khung vẽ vòm đêm tím tái
hay ảo ảnh lãng đãng một ngày xa
mảng sơn dầu vón cục góc tối
đắng chát biển khuya
hối lỗi cát mềm
Thầm gọi tên một ngôi sao vừa rụng
vệt màu nhá nhem trên vách thiên hà
còn ánh mắt chứa chan đâu đó
còn những lời độc ác ở quanh ta
Người gắng sống như cây sau bão
vẫn còn đây vài chiếc lá trên cành
thầm đâm búp dưới trời đêm sâu thẳm
thầm một lời thân thiết từ xa xanh
Hoà sắc đêm trộn bao màu kỳ lạ
và ánh trăng le lói thức ngang trời
ai vừa vẽ một cánh buồm rạng sáng
xé đêm tàn rong ruổi ra khơi.



Bến xanh


T
rộn vào giấc ngủ tôi
là âm thanh sông nước
thuở thiếu thời trăng dạt bãi bờ
tôi gánh buồn vui trên con đường cát
đã bao năm qua tuổi thơ
tôi đã xây vô vàn ước muốn
mong cuộc đời đẹp tựa giấc mơ
tôi đã bay như chim  qua nhiều con nước
biết tức giận với những thờ ơ
những con đường gian nan
thừa nắng nóng khét tàn
úa vạt cỏ ven đồi gai mộng mị
tôi cất bước con đường lên cơn sốt
vào trưa nào gắt gỏng đá khô
chợt có lúc không may sã cánh
cần bàn tay an ủi bến xanh
tôi vẫn tìm trong ý nghĩ mỗi ngày
qua ban mai ướt át
qua cơn khát đang trưa lặn lội
những vạt đồi thiên thanh
như em tôi cất tiếng gọi trong lành
như bạn tôi hát trên sóng nước
... đi tìm bến xanh.



Đường biển


T
ôi bước vào miền hoang vu
im lìm ngủ dưới ngàn sao ngàn cát
những con đường nhập nhằng khô khát
chưa một dấu chân ai
Góc biển đêm đá xót xa khắc khoải
con cua lần hồi gắp từng ánh lân tinh
cánh chim núi rã rời ngày biển động
thuỷ triều rút đi đắng chát trong mình
Cảm nhận cũ bùng nơi chân sóng
vỏ hà đố kị tấm lưới rách bủa vây
con cá quẫy mình tìm đường thoát
mà sao đêm cứ tối thế này
Còn vệt sáng vừa loé miền cỏ biển
những con đường khe khẽ hồi sinh
tôi nhặt hành trang tuổi ngây thơ tay trái
đi về nơi tư lự phận mình
Những mảnh trăng rớt xuống đêm bí ẩn
tôi cẩn thận xếp vào hộp thời gian
chiếc hộp ấy đợi em mở nắp
vào đêm sinh nhật tình đầu
Trong muôn vàn hoang vu của ngàn sao ngàn cát
có một con đường...
đưa tôi vượt đêm thâu.

M.T

Doanh nhân xưa đất Cảng

Tin chung Trackbacks (0) Bản in góp ý (80)   


DOANH NHÂN XƯA ĐẤT CẢNG


Nhân chuyến anh Ozi, Việt Kiều Úc về thăm Hải Phòng. Cát Biển có trò chuyện và mạn bàn với anh Ozi về các Doanh nhân Hải Phòng xưa như: Bạch Thái Bưởi, Nguyễn Sơn Hà, Vạn Vân, Phạm Văn Phi, Quảng Thịnh, Cát Tường, Lê Văn Thược,... Nay Cát Biển xin có một bài viết kể về các Doanh nhân xưa đất Cảng tặng anh Ozi và các bạn tham khảo. Hy vọng anh Ozi và các bạn tham gia ý kiến để có thể kể tiếp câu chuyện về Doanh nhân xưa đất Cảng; Và sau đó là câu chuyện về Doanh nhân đất Cảng ngày nay nữa
.

Bạch Thái Bưởi- Ông vua tàu thuỷ


Ông Bạch Thái Bưởi sinh năm 1874 ở Yên Phú, Thanh Trì, Hà Nội. Do tư chất thông minh, lại ham học hỏi cái mới nên Bạch Thái Bưởi sớm thông thạo tiếng Pháp và đã được nhận làm Ký lục cho một hãng buôn của người Pháp. Năm 1894, Bạch Thái Bưởi chuyển sang làm cho một hãng Thầu công chính. Năm 1909, Bạch Thái Bưởi đã thuê lại của A. Marty, một chủ hãng tàu thủy Pháp ở Bắc Kỳ, ba chiếc tàu: Phi Phụng, Phi Long và Khoái Tử Long. Chỉ 7 năm làm vận tải thủy, đến 1915, ông mua được cả xưởng đóng tàu và sửa chữa tàu thủy của A.Marty. Vậy là ông đã chủ động hoàn toàn, từ sửa chữa tàu, đóng mới tàu và chạy tàu.

Năm 1916, tại Hải Phòng, Bạch Thái Bưởi đã khai trương một Công ty lừng danh "Giang hải luân thuyền Bạch Thái Bưởi Công ty", có cờ hiệu riêng màu vàng in hình mỏ neo và 3 ngôi sao đỏ. Công ty Bạch Thái Bưởi có hơn 40 tàu thủy và sà lan chạy trên các tuyến sông Bắc Kỳ, miền Trung và Nam Kỳ; Còn có một số tàu viễn dương, chạy tới Hồng Kông, Trung Quốc, Philippin, Singapore, Nhật Bản... Công ty lớn có hơn 1400 người.Trong kinh doanh, Bạch Thái Bưởi rất chú trọng công tác tiếp thị. Mỗi tuyến đường thủy mở ra, ông đều cho đăng quảng cáo trên báo chí, đặc sắc nhất là ông hay dùng những bài thơ quảng cáo khiến dân chúng dễ nhớ. Như tuyến đường thủy đi Chùa Hương, ông cho đăng bài thơ có những câu:
Sông Phủ Lý gần kề cạnh bến
Thuyền hỏa xa vừa đến thời đi
Chèo Lan trỏ nẻo Đục Khê
Lại từ Bến Đục đua về Hà Nam
....

Tàu của Công ty Bạch Thái Bưởi hết sức sạch sẽ và an toàn trong hành trình do được người thợ đóng tàu chất lượng cao ngay từ Xưởng đóng và sửa chữa tàu Cửa Cấm, bên bờ sông Tam Bạc. Tại Xưởng có gần 900 công nhân làm việc. Kỹ thuật sửa chữa và đóng tàu của Xưởng này, đương thời là một niềm tự hào của người Việt Nam. Năm 1916, Xưởng tiến hành nối dài chiếc tàu Khoái Tử Long bằng cách cắt đôi con tàu rồi nối thêm một khúc giữa dài 7,80 mét, năm 1919 lại nối dài tàu Phố Lu thêm 7,20 mét... Thành công xuất sắc nhất là sự kiện đóng mới con tàu Bình Chuẩn trọng tải 600 tấn, hạ thủy ngày 7/9/1919. Tàu Bình Chuẩn khởi chạy ngày 20/8/1920, chuyến đường thuỷ xuyên Việt từ Hải Phòng đi Sài Gòn, có ghé qua các bến cảng Bến Thủy, Đà Nẵng, Quy Nhơn.

Ngoài kinh doanh vận tải thủy, Bạch Thái Bưởi còn dùng vốn đầu tư vào các ngành khác như: khai thác mỏ, bất động sản,... trong đó có đầu tư làm nhà in "Đông Kinh ấn quán" và xuất bản tờ "Khai hóa Nhật báo" với mục đích cổ động mạnh mẽ phong trào doanh nghiệp của người Việt Nam... Tiếc thay, cuộc sống của con người tay trắng làm nên sự nghiệp lớn đã không được dài lâu, Bạch Thái Bưởi qua đời ngày 22/7/1932 tại Hải Phòng. Có thể thấy Bạch Thái Bưởi là nhà doanh nghiệp Hải Phòng nói riêng và Việt Nam nói chung hiểu sâu sắc sức mạnh của tình cảm dân tộc, và ông đã thành công.


Nguyễn Sơn Hà- Chủ hãng sơn uy tín


Ông Nguyễn Sơn Hà quê Quốc Oai, Sơn Tây, nhưng sinh ở Hà Nội năm 1894. Làm thư ký cho hãng sơn dầu nổi tiếng Sauvage Cottu, Nguyễn Sơn Hà lẳng lặng học nghề làm sơn dầu với quyết tâm sẽ gây dựng cuộc đời bằng nghề này. Khi đã nắm được những bí quyết cơ bản của nghề sản xuất và kinh doanh sơn dầu, ông xin thôi việc. Ông bán chiếc xe đạp, lấy tiền làm vốn, mở một cửa hàng nhỏ nhận việc quét vôi, quét sơn, kẻ biển. Bề ngoài là vậy, nhưng trong nội bộ là lẳng lặng chế thử sơn dầu... Cuối cùng, Nguyễn Sơn Hà đã thành công!

Đầu những năm 30 của thế kỷ XX, ở Hải Phòng, hiệu sơn dầu của Nguyễn Sơn Hà đã xuất hiện và dám cạnh tranh với các hàng sơn của người Pháp và người Hoa. Với giá thành hạ, chất lượng tốt, mau khô và bóng đẹp, sơn của Nguyễn Sơn Hà ngày càng được khách hàng ngoài Bắc, trong Nam tín nhiệm. Với những mặt hàng phong phú như sơn Résistanco A- B dùng cho sơn xe đạp, sơn Durolac để sơn ôtô, sơn Ideal dùng sơn các vật dụng thông thường..., sau một thời gian ngắn, sơn của Nguyễn Sơn Hà đã cạnh tranh được với cả sơn của hãng Sauvage Cottu, sơn Ripholin nhập từ Pháp sang.  

Nguyễn Sơn Hà trở thành niềm tự hào của người Việt Nam, từ tay trắng làm nên sự nghiệp, khẳng định tài trí của người Việt. Như lời của Phan Bội Châu viết trong câu đối tặng Nguyễn Sơn Hà: Hoá học bác âu trường, tô điểm sơn hà tâm hữu tất - Công khoa tồn Việt chủng, chuyển di thời thế thủ vi cơ. (Tạm dịch: Lấy hoá học người âu điểm tô cho sông núi bởi tấm lòng son sẵn có - Làm công nghệ đất Việt, đổi thay thời thế từ tay trắng làm nên).

Xuất thân từ một gia đình nghèo khổ, Nguyễn Sơn Hà có một tấm lòng thương người đặc biệt, ông luôn quan tâm đến việc làm sao để nâng cao vị thế của dân mình. Khi phong trào truyền bá quốc ngữ được thành lập ở Hà Nội và một số tỉnh, Nguyễn Sơn Hà liền đứng ra vận động mọi người thân quen làm nòng cốt để gây dựng phong trào Truyền bá quốc ngữ ở Hải Phòng. Cụ Nguyễn Văn Tố đã thân hành về Hải Phòng đề nghị Nguyễn Sơn Hà làm hội trưởng Hội Truyền bá quốc ngữ Hải Phòng, Kiến An. Năm 1945, khi nạn đói khủng khiếp xảy ra, Nguyễn Sơn Hà đã đứng ra tổ chức ban cứu đói.  Vợ chồng ông còn đứng ra lập trường Dục Anh tại số nhà 46 phố Lạch Tray để nuôi dạy trẻ mồ côi.

Khi thực dân Pháp đánh chiếm Hải Phòng, cả gia đình ông Nguyễn Sơn Hà đều tham gia kháng chiến, rồi lên Việt Bắc. Ở chiến khu, ông cùng một số cộng sự nghiên cứu tìm tòi các nguyên liệu và phương tiện để mở xưởng sản xuất ra giấy than, mực in litô và vải che mưa. Vải che mưa của xưởng Nguyễn Sơn Hà chế tạo có thể chống mưa, nguỵ trang cũng tốt, lại có thể dùng làm chiếu nằm rất tiện lợi... Vào tháng 10/1948 và tháng 3/1949, hai lần ông được Hồ Chủ tịch gửi thư khen và động viên ông tiếp tục đóng góp cho kháng chiến...

Hoà bình lập lại, Nguyễn Sơn Hà đưa gia đình về lại thành phố Hải Phòng. Đến năm 1980, ông qua đời, hưởng thọ 86 tuổi. Cả cuộc đời, ông luôn lao động sáng tạo và yêu thương đồng bào của mình. Bởi vậy, tiếng thơm của ông, người đời nhớ mãi. Tháng 1/2010, nhân kỷ niệm 30 năm ngày mất Nguyễn Sơn Hà, Thành phố Hải Phòng đã tổ chức ghi nhận những cống hiến quý báu của Nguyễn Sơn Hà, một Doanh nhân đất Cảng tài trí, giàu lòng yêu nước.


Vạn Vân- Thương hiệu nước mắm nổi tiếng


Ông Đoàn Đức Ban (thường gọi là Lý Ban) ở thôn Hoà Hy, xã Hoà Quang là người đầu tiên nghĩ tới việc sản xuất nước mắm Cát Hải lên bán cho chính vùng Kinh Bắc. Nước mắm được chở bằng thuyền tới vạn chài làng Vân (Vạn Vân) sau đó toả đi các nơi do vậy người mua quen gọi là nước mắm Vạn Vân. Bản thân Đoàn Đức Ban cũng luôn luôn mang ơn nơi đã truyền nghề cho mình bèn nhận cái tên dân gian và chính thức đặt tên cho nước mắm của mình là Vạn Vân. Ngư dân Cát Hải, Cát Bà, Quảng Yên, Hồng Gai, Hải Ninh tới tấp chở cá bán cho những hộ sản xuất nước mắm và chở bã cá từ đấy bán cho nguời Hà Cối dùng trong chăn nuôi.

Vạn Vân là người có đầu óc kinh doanh và phát triển sản xuất. Ông mua nhà ở Bắc Ninh, Hải Phòng, Hà Nội vừa làm kho vừa làm cửa hàng. Cửa hàng ở Hải Phòng đặt tại 184 Xavátxiơ (nay là phố Quang Trung), ngay trước bến nhận hàng trên sông Lấp. Cửa hàng ở Hà Nội đặt tại ngã ba phố Trần Nhật Duật và Hàng Khoai gần sông Hồng và ga Đầu Cầu (ga Long Biên). Cửa hàng ở Bắc Ninh cũng gần sông.

Năm 1936 xí nghiệp Vạn Vân là cơ sở sản xuất nước mắm lớn nhất nước ta, được  thành lập vào năm 1916 ở giữa hai làng Can Lộc và Văn Chấn thuộc Cát Hải. Xưởng có 10.000 chum loại 400kg đựng chượp để lâu năm mới đem nấu. Nước mắm Vạn Vân được chế biến từ ba loại cá: Cá Quân một loại cá xác- đin, chỉ đánh được vào tháng 5, tháng 6 hàng năm, cho ra nước mắm thượng hảo hạng; cá nhâm có nước mắm loại hai; các ruội có nước mắm loại ba. Có câu ca về những sản vật ngon nổi tiếng Bắc Kỳ: Dưa La, húng Láng, nem Báng, tương Bần, nước mắm Vạn Vân, cá rô đầm Sét,...

Ông bà Vạn Vân có hai con trai hai con gái. Con trai cả là Đoàn Đức Trình. Người con trai thứ hai, Đoàn Đức Chuẩn (nhạc sĩ Đoàn Chuẩn) lại say mê âm nhạc. Ngoài cửa hàng bên sông Hồng, ông bà Vạn Vân mua riêng cho Đoàn Chuẩn biệt thự  số 9 Cao Bá Quát Hà Nội. Đoàn Chuẩn xây rạp Đại Đồng và lập gánh hát Lúa Vàng. Ông là nhạc công ghita  Haoai xuất sắc và sáng tác một số ca khúc, trong đó có nhạc phẩm "Thu quyến rũ" nổi tiếng.

Trước cách mạng tháng Tám một thời gian, ông Vạn Vân qua đời. Toàn quốc kháng chiến bùng nổ, Đoàn Đức Trình lên chiến khu tiếp tục công tác trong tổ tài chính của Nguyễn Lương Bằng. Bà Vạn Vân ở lại Cát Hải duy trì công việc của hãng. Những năm 1950, 1953 là thời gian cực thịnh của hãng Vạn Vân. Ngoài các cửa hàng, hãng còn có đoàn xe ôtô vận tải.

Hoà bình lập lại, Đoàn Đức Trình từ chiến khu trở về tiếp thu cơ sở Vạn Vân thay mẹ. Tuy chỉ đứng chủ hãng có bốn năm, sau này Đoàn Đức Trình vẫn bị quy là tư sản. Tháng 10/1959 thực hiện chính sách cải tạo công thương nghiệp tư bản tư doanh, Đoàn Đức Trình cùng 54 hộ tư sản và tiểu chủ sản xuất nước mắm khác ở Cát Hải, trong đó tài sản của Vạn Vân chiếm đại đa số. Quy trình sản xuất của xí nghiệp cũng tiếp nhận từ quy trình của Vạn Vân. Đoàn Đức Trình được cử làm phó Giám đốc xí nghiệp. Cái tên Vạn Vân mất từ đó.

Tuy nhiên tiếng tăm Vạn Vân không hề mất. Năm 1975 toàn bộ vốn cố định và lưu động của gia đình Vạn Vân coi như hết. Gia đình chấm dứt việc hưởng lợi tức. Cũng năm này Đoàn Đức Trình phát biểu trên Đài tiếng nói Việt Nam về chính sách cải tạo tư sản, góp phần vào việc cải tạo tư sản ở miền Nam. Năm 1977 Đoàn Đức Trình về hưu, chuyển lên Hà Nội sống cùng gia đình Đoàn Chuẩn. Năm 1989 ông mất ở Hà Nội.


Phạm Văn Phi- Chủ hãng ôtô nổi danh


Ông Phạm Văn Phi xuất thân từ một gia đình nông dân nghèo ở làng Lâm Động, huyện Thuỷ Nguyên, Hải Phòng. Tuổi thiếu thời, Phạm Văn Phi đã sang Hải Phòng học việc trong các xưởng thợ để kiếm sống và trở thành thợ giỏi, có óc sáng tạo. Có lần, Cảng Hải Phòng có một cần cẩu lớn, hiện đại gọi là cần cẩu vàng bị hỏng hóc không hoạt động được, thợ của Cảng bó tay, trong khi nhu cầu bốc dỡ hàng đang cần gấp. Giám đốc Cảng sốt ruột bèn hứa ai chữa được cần cẩu sẽ được thưởng. Thợ Phi nhận xin sửa thử, kết quả sau khi cặm cụi mày mò, cần cẩu vàng hoạt động trở lại trước sự ngạc nhiên của chủ và các bác thợ già. Một lần, chủ nhất mỏ than Hồng Gai có chiếc két sắt đựng tiền bị hóc khoá không thể nào mở được. Loại khoá két bạc vốn rất phức tạp, ít thợ sửa được Phạm Văn Phi cũng nhận sửa và thành công. Hai lần sửa chữa cơ khí phức tạp thành công, Phạm Văn Phi không chỉ nổi tiếng khéo tay, giỏi nghề mà còn được trả công và khoản tiền thưởng hậu.

Có chút vốn liếng và tay nghề, ông vào Vinh mở cửa hiệu sửa chữa ô tô mang tên Phạm Phi. Nhờ giỏi tay nghề, trọng chữ tín, thương yêu những người giúp việc cùng cảnh áo ngắn nên hiệu Phạm Phi đắt khách, làm ăn phát đạt. Vì vậy, ông có điều kiện mở rộng xưởng cơ khí sửa chữa, sau lại sắm được ô tô hoạt động trên các tuyến đường Vinh- Huế- Đà Nẵng- Đà Lạt và Vinh- Savanakhét (Lào). Lúc phát đạt nhất, hãng xe Phạm Phi có đến 43 đầu xe chạy; bảy, tám chục công nhân, phần đông là con em họ hàng người làng Lâm. Hãng này ngày ấy đã làm một con đường ở thành phố Vinh, được gọi là đường Phạm Phi.

Ròng rã 20 năm (1908- 1928) kiên trì lao động kinh doanh, từ một công nhân trở thành một chủ hãng lớn ở miền Trung. Nhưng vào thời kỳ kinh tế khủng hoảng-  năm 1930 ông phải bán cả xí nghiệp cho nhà tư bản Bạch Thái Bưởi. Sau khi phá sản, ông đau yếu rồi qua đời. Gia đình ông có cảm tình với phong trào cách mạng, con trai ông là Phạm Văn Ngự tham gia cách mạng trong cao trào kháng Nhật cứu quốc ở quê nhà, xây dựng nhóm Việt Minh ở Lâm Động. Cháu ông là Nhà điêu khắc Phạm Ngọc Lâm. Và chắt ông là ca sĩ Lâm Phương hiện nổi tiếng ở Hải Phòng.


Quảng Thịnh- Rừng khăn mũ

Ông Quảng Thịnh sinh năm 1908 tại Đa Ngưu, Mỹ Văn, Hưng Yên trong một gia đình giáo học. Năm 19 tuổi ông theo người anh họ xuống Hải Phòng học nghề làm mũ, ông học sáng dạ và thiết kế được nhiều kiểu khăn mũ mới với mẫu mã rất đẹp. Sau khi học thành nghề, năm 1939, ông mở một cửa hàng và xưởng thợ ở phố Khách, Hải Phòng. Bấy giờ mũ ni-e và khăn xếp đang là mốt của giới công chức và nam nữ tân tiến thành phố. Cửa hàng đắt khách đến mua buôn và mua lẻ. Xưởng thợ khăn mũ đông người làm và lương công nhật rất sung túc, vì thế có câu thơ:
Muốn ăn cơm tám với giò
Lấy chồng thợ mũ chẳng lo lắng gì.

Vua Bảo Đại cùng Nam Phương Hoàng Hậu xuống Hải Phòng du ngoạn và ra Đồ Sơn nghỉ ngơi. Ông Quảng Thịnh được Tòa thị chính thành phố đặt làm một chiếc khăn xếp cầu kỳ tặng Nam Phương Hoàng Hậu. Nam Phương Hoàng Hậu rất thích và gửi lời khen ngợi. Cửa hàng của ông Quảng Thịnh lấy quảng cáo "Rừng khăn mũ", bán buôn bán lẻ khắp miền Duyên Hải. Các thương lái từ Quảng Yên, Hải Dương, Hưng Yên, Nam Định, Thái Bình,... tấp nập về lấy mũ và khăn của ông mang đi bán khắp vùng miền. Gia đình ông Quảng Thịnh thông gia với gia đình ông Phú Hà. Đám cưới con gái đầu của ông Quảng Thịnh lấy con trai ông Phú Hà to nhất thời bấy giờ.

Chiến tranh chống Mỹ, ông Quảng Thịnh sơ tán lên Kim Thành, Hải Dương và mở cửa hàng khăn mũ tại chợ Giải. Bà con đến nay còn nhớ ông cụ cao lớn với chòm râu trắng làm mũ và bán mũ phục vụ bà con rất ân tình. Hòa bình lập lại, ông về Hải Phòng tham gia sản xuất kinh doanh khăn mũ và hoạt động công thương xã hội tích cực. Năm 1980, ông Quảng Thịnh vào Sài Gòn chơi, rồi mất sau một cơn cao huyết áp. Các con trai và con gái của ông là giáo viên, kỹ sư, cán bộ đoàn thể... Chỉ tiếc là không ai nối nghiệp làm mũ của ông nữa.


Lê Văn Thược- Kinh doanh địa ốc


Phố Lê Chân, Hải Phòng ngày trước có tên là Nam Sinh- Lê Văn Thược. Còn có tên gọi là ngõ Nghè vì đầu phố có đền Nghè thờ bà Lê Chân. Ông Lê Văn Thược là nhà thầu khoán kiêm điền chủ và kinh doanh địa ốc năm xưa. 

Cuối thế kỷ 19 ở xã Ông Đình, huyện Khoái Châu, tỉnh Hưng Yên có một gia đình nông dân nghèo sinh được ba người con gái. Vì không thể nuôi nổi các con, họ đã phải đem một đứa ra Hà Nội  bán. Đó là Lê Thị Tâm. Nhớ nhà, sợ hãi cuộc sống xa lạ, ngay đó Tâm đã  trốn khỏi nhà chủ. Một người đàn bà tốt bụng nhận Tâm về làm con sen. Không được đi học nhưng cô được bà dạy không những đọc thông viết thạo mà còn biết cả chữ nho. Tâm càng lớn lên càng xinh đẹp. Cô được nhiều người để ý, sau đó thành vợ chủ hãng Nam Sinh ở Hải Phòng, một người Pháp làm nghề thầu khoán, đại diện cho một hãng thầu ở Pháp. Lê Thị Tâm được gọi là bà Nam Sinh từ đó.

Có một người đàn ông khác cũng thầm yêu trộm nhớ bà Nam Sinh, đó là... anh bồi của ông bà chủ, tên là Lê Văn Thược. Ông Thược quê ở làng Mọc, tỉnh Hà Đông, nay là vùng cống Mọc, gần Ngã Tư Sở, Hà Nội. Một thời gian sau, người Pháp nọ hết hạn làm việc ở Đông Dương. Có lẽ ông ta đã có vợ con bên Pháp nên không thể đem người vợ Việt Nam về theo. Bà Nam Sinh đề đạt nguyện vọng nếu không thể sang Pháp thì cho mình được lấy ông Lê Văn Thược. Người chồng Pháp bằng lòng, không những vậy còn giao luôn hãng Nam Sinh cho hai người.

Bà Nam Sinh thành vợ ông Lê Văn Thược, từ đó ông Lê Văn Thược cũng được gọi là Nam Sinh. Được chính quyền khuyến khích tham gia vào việc phát triển đô thị, vợ chồng Nam Sinh liền vay tiền Địa ốc ngân hàng để xây nhà trên con đường mới được mở rộng trên cơ sở của ngõ Nghè cũ, chạy từ phố Cầu Đất sang phố Mê Linh. Người Hải Phòng  có thói quen gọi ngõ phố bằng tên những người đầu tiên xây nhà hoặc có mặt ở đấy nên gọi con phố mới mở này được gọi là phố Nam Sinh, sau đó được chính quyền thành phố chính thức hoá, lèo thêm "dit Le Van Thuoc", có lẽ để người ta khỏi lầm với ông chủ hãng Nam Sinh cũ nay đã về Pháp.

Người Pháp phân biệt: Boulevard là đại lộ, Avenue là phố lớn, Rue là phố nhỏ, Route là đường. "Rue Nam Sinh dit Le Văn Thuoc" thuộc loại phố nhỏ, chỉ dài khoảng  200m, đường và vỉa hè hẹp. Nam Sinh xây phần lớn nhà trên phố, vì để bán cho Hoa kiều hoặc cho họ thuê. Trường nữ học trên phố, nay là Trường tiểu học Nguyễn Thị Minh Khai, cũng do Nam Sinh xây theo thiết kế và đầu tư của chính quyền thành phố. Ngày 20/10/1946, Chủ tịch Hồ Chí Minh đi thăm Pháp về, để đảm bảo an toàn cho Bác, tránh xa nơi quân Pháp chiếm đóng, tổ chức đã bố trí Bác nghỉ trong một căn phòng của trường này.

Xã Hoà Nghĩa thời ông bà Nam Sinh thuộc tổng Tư Thuỷ. Nhân dân Hoà Nghĩa ngày nay nhiều người vẫn nhớ "Bài thơ lập ấp", tương truyền đã ra đời gần 100 năm nay, tác giả là ông giáo Móm. Mấy câu đầu bài thơ như sau:                                   
Tỉnh Kiến An có làng Hoà Nghĩa
Nhác trông xem phong cảnh hữu tình
Hỏi ra từ ông Nam Sinh
Xuất tài, xuất lực lập thành xã dân...
Cứ như bài thơ thì hồi đầu thế kỷ 20 vùng Hoà Nghĩa khá hoang vắng.  Nhân dân Hải Phong, Hoà Nghĩa được hỏi đều mang ơn ông bà Nam Sinh. Ông là một người khá uy tín trong xã hội nên đã được bầu làm nghị viên Viện Dân biểu Bắc Kỳ. Năm 1932 ông Nam Sinh- Lê Văn Thược mất và an táng tại Hoà Nghĩa.

CB

Thơ trên lịch bàn HP 2010

Truyện làng văn nghệ Trackbacks (0) Bản in góp ý (86)   


Đã thành thông lệ, mỗi năm Nhà Xuất bản Hải Phòng lại chọn những vần thơ hay trích trong thi phẩm của các nhà thơ đất Cảng để in trên mỗi tuần của trang lịch bàn. CB xin giới thiệu một số câu Thơ trên lịch bàn HP 2010 do NXB HP ấn hành đến độc giả.


Hồ Anh Tuấn

Mưa xuân như có bùa mê

Mưa xuân như có bùa mê
Chờ trời gặp đất, em về gặp anh
Nhớ thương vắt kiệt trời xanh
Giọt buồn thấm cỏ, ngọt lành lên môi.

Đinh Thường

Nghe tiếng gà gáy

Đầu hôm gà gáy giục dồn
Tưởng mình nằm giữa ổ rơm quê nhà.
Bập bùng bếp đỏ tàn hoa
Nắm cơm mẹ gói đường xa học hành ...

Trần Quốc Minh

Mẹ

Những ngôi sao thức ngoài kia
Chẳng bằng mẹ đã thức vì chúng con
Đêm nay con ngủ giấc tròn
Mẹ là ngọn gió của con suốt đời.

Minh Trí

Lân tinh

Vết lân tinh gợi nhớ điều vừa mất
Vết lân tinh gợi thấy điều đang còn
Bước chân thời gian vội vã
Anh ánh miền đất hoang
Chợt vô tình gặp em một phút
Mười năm sau chưa hết bàng hoàng.

Phạm Ngà

Kỷ niệm

Nếu kỷ niệm có thể bán đi
Chưa biết chừng tôi sẽ thành giàu có
Đầy ắp trong tôi buồn vui trăn trở
Suốt cuộc đời đi tìm cái không đâu.

Vũ Thị Huyền

Lạc

Rượu ai rót lạc vào say
Hoa ai lại lạc vào tay ai cầm
Run run những nụ cùng mầm
Tôi đi lạc giữa âm thầm cô đơn.

Mai Văn Phấn

Hát giữa hai mùa

Sau bão giông trời chưa kịp xanh lơ
Thu đến chậm hoa vàng chưa bối rối
Mía cứ ngọt âm thầm trong bóng tối
Giấc mơ thành dòng sông chảy giữa hai mùa.

Thi Hoàng

Thành phố những cánh buồm

Có rất nhiều cơn bão đã đi qua
Trời xanh lặng như đang điềm tĩnh lại
Hoa phượng đỏ cứ như là máu nói
Hay chính trái tim mình từ đó nở bừng ra.

Tô Ngọc Thạch

Đôi bờ sông Cấm

Cây cầu Bính vắt ngang thành phố
Nối tình yêu năm tháng đợi chờ
Bên Thuỷ Nguyên nắng vun vàng khung cửa
Phía Hải Phòng mưa phủ ướt hồn thơ.

Vũ Huy Long

Nhặt lá

Lá khô khắc khoải lìa cành
Mùa thu rụng xuống cho mình nhặt thơ
Chiều nay thành kẻ mộng du
Nhặt mùa thu để mùa thu nhặt mình.

Nguyễn Tất Hanh

Mùa đi

Ngày chậm lại ngân nga vài khoảng sáng
Thân xác còn đây hồn vía dã quỳ
Những khao khát tái sinh làm cỏ dại
Nơi hoa vàng mãi mãi ra đi.

Kim Chuông

Câu thơ tôi viết

Em như một sợi đàn căng
Tôi như âm hưởng đang nằm lắng im
Em như một mảnh trăng chìm
Cầm lên thì mất, đứng nhìn thì đau.

Nga Hoàng Anh

Bức tranh quê

Cha tôi
cặm cụi trong đêm
chẻ tre
cạp mảnh trăng lên đầu làng
Mẹ sàng:
sao lọt mắt sàng
Tôi ngồi:
cứ nghịch trăng vàng đầy sân.

Hà Thúc Quả

Hương lúa muộn

Con bướm nhặt hết hương
Nhuộm cánh vàng rực rỡ
Nhánh lúa buồn hết thơm,
Trĩu cong bao nỗi nhớ ...

Nguyễn Ngọc Thịnh

Ớt gạo

Cứ nhỏ như hạt gạo mà cay
Vị cay không thiếu ở đời này
Chết để hạt mùa sau lại mọc
Buồn vui mưa nắng tháng ngày.

Trần Nguyên Thạch

Con muỗm xanh

Mẹ gặt lúa đồng sâu
Túi áo nâu con muỗm xanh màu lá
Thơm lừng hương quê.

NXBHP

Hội Nhà văn Hải Phòng

Tin chung Trackbacks (0) Bản in góp ý (82)   


HỘI NHÀ VĂN HẢI PHÒNG

Hội Nhà văn Hải Phòng được thành lập ngày 26.1.2005, trên cơ sở chuyển đổi của Hội Văn học lúc đó với 97 hội viên. Số hội viên hiện có là 124 người, với 82 nhà thơ và 42 nhà văn, trong đó có 26 hội viên Hội Nhà văn Việt Nam. Đây cũng là hội có số hội viên đông nhất trong 9 hội chuyên ngành của Hội Liên hiệp Văn học- Nghệ thuật Hải Phòng và đứng thứ ba toàn quốc.

Sau 5 năm hoạt động, tính đến ngày 26.1.2010, sáng tác của Hội Nhà văn Hải Phòng "được mùa" với hơn 150 tác phẩm ra đời. Có hơn 25 lượt hội viên được giải thưởng hằng năm của Liên hiệp các Hội Văn học- nghệ thuật Việt Nam; hơn 30 lượt hội viên đã giành được giải thưởng các loại. Hầu như cuộc thi văn chương nào, các nhà văn Hải Phòng cũng đoạt giải, trong đó có nhiều giải danh giá. 

Hội Nhà văn Hải Phòng được biết đến là nơi hội tụ của nhiều thế hệ nhà văn, nhà thơ "của một thời" như Khái Hưng, Trần Tiêu, Nguyễn Huy Tưởng, Nguyên Hồng, Nguyễn Đình Thi, Thế Lữ, Lê Đại Thanh... Thế hệ trưởng thành sau đó, văn xuôi có Bùi Ngọc Tấn, Đình Kính, Trần Tự, Bão Vũ, Đoàn Lê, Cao Năm, Lưu Văn Khuê...; thơ có Thi Hoàng, Đào Cảng, Trịnh Hoài Giang, Dư Thị Hoàn, Phạm Ngà, Hồ Anh Tuấn, Mai Văn Phấn, Vũ Thị Huyền,...

Nhưng Hải Phòng vẫn đang tìm cách trẻ hóa để nuôi dưỡng một thế hệ tiếp nối tiềm năng cả về lượng và chất. Nếu có thể phát triển cái nền tảng của truyền thống nối tiếp ấy, chắc chắn, tiềm lực sáng tác của Hải Phòng sẽ ngày càng vững mạnh. Không gì khác hơn, cần có giải pháp cấy mầm trong thế hệ để tìm tài năng sáng tác, để ươm cho những mầm cây ấy sinh sôi. Những trang viết của Hội viên Hội nhà văn Hải Phòng luôn song hành cùng những trang lịch sử: Một Hải Phòng những ngày đầu giải phóng, một Hải Phòng những ngày đánh Mỹ, Hải Phòng đầy trăn trở những ngày đầu bước vào cuộc sống thị trường và Hải Phòng hồ hởi trong công cuộc đổi mới công nghiệp hoá- hiện đại hoá đất nước. 

Được thành lập ngày 15.1.1964, đến đầu năm 2010, Hội Liên hiệp Văn học nghệ thuật Hải Phòng vừa tròn 46 năm xây dựng và trưởng thành. Từ tên gọi ban đầu là Chi hội Văn học nghệ thuật Hải Phòng, gồm 5 tiểu ban với chưa đầy 100 hội viên, ngày nay Hội đã có 9 hội chuyên ngành quy tụ hơn 550 anh chị em hội viên hoạt động trên mọi lĩnh vực văn học nghệ thuật. Rất nhiều anh chị em buổi ban đầu chập chững giờ đây đã trở thành những tác giả, những nghệ sĩ có tên tuổi trong cả nước.

Không dễ một Hội văn học nghệ thuật địa phương nào có được bề dày 46 năm, bởi Hội Liên hiệp Văn học nghệ thuật Hải Phòng, với tên gọi đầu tiên là Chi hội Văn học nghệ thuật Hải Phòng, được thành lập sớm thứ hai trên miền Bắc sau ngày một nửa đất nước được giải phóng, trước Hà Nội hai năm. Hồi đó Hà Nội tập trung hầu hết các nhà văn, các nghệ sĩ có tên tuổi nên nhu cầu thành lập Chi hội chưa trở nên bức thiết.

Những năm mới chỉ có Ban vận động thành lập Chi hội, Hải Phòng đã chứng tỏ đội ngũ tiềm tàng với những người lãnh đạo tài năng và tâm huyết: Nhà văn Nguyên Hồng, nhạc sĩ Trần Hoàn, nhà thơ Nguyễn Viết Lãm; bên cạnh là Lê Đại Thanh, Bùi Ngọc Tấn, Nguyễn Quang Thân, Nguyễn Thanh Toàn, Giang Tấn, Nguyễn Hoàng, Nguyên Bình, Thúc Hà, Nguyễn Văn Chuông...

Liền đấy đã nhìn thấy rất nhiều những tài năng hứa hẹn xuất thân từ đội ngũ trí thức, từ công nhân. Rồi Vân Long, Hoàng Hưng, Đào Cảng, Trịnh Hoài Giang, Nguyễn Thanh Toàn, Thanh Tùng, Thi Hoàng... Khoẻ khoắn, trong trẻo như lá non, hừng hực như hơi thở của biển cả- đó là đặc điểm của văn chương Hải Phòng những năm chống Mỹ. Cây bút trẻ thời nào chả có, điều đáng chú ý ở đây là sự xuất hiện hàng loạt và để lại ấn tượng ngay từ đầu.

Những anh em có mặt từ thời kỳ ấy, kể cả trong văn xuôi, đến nay vẫn tiếp tục đi xa, tiến xa trong sự nghiệp. Thế mà bắt đầu gần như từ con số không! Những ánh hào quang xưa từng đem lại vầng sáng cho Hải Phòng- nơi đã sản sinh ra họ, như Vi Huyền Đắc, Thế Lữ, Khái Hưng, Trần Tiêu,... sau ngày giải phóng chỉ còn là những ký ức xa xôi.

Với Nguyên Hồng, ông ở Hà Nội và Bắc Giang nhưng vẫn đi về với quê hương thứ hai nặng tình nặng nghĩa của mình, để rồi một ngày đầu năm 1964, đã xúc động đọc bài diễn văn khai mạc Đại hội thành lập tổ chức của những người hoạt động văn học nghệ thuật Thành phố Cảng và trở thành vị Chủ tịch đầu tiên của Hội. Giờ đây, sau 46 năm, Hội Liên hiệp Văn học nghệ thuật Hải Phòng đã có hơn 550 hội viên, trong đó có 124 anh chị em hoạt động văn học.

Đúng vậy, Hải Phòng là miền đất của văn chương, bắt đầu từ những vị Trạng nguyên: Lê Ích Mộc, Trần Tất Văn và nhất là danh nhân văn hoá Trạng Trình Nguyễn Bỉnh Khiêm. Ngay sóng biển cũng ngọn cao ngọn thấp và lúc triều lên triều xuống. Mừng nhất là bên cạnh những tác giả đã được khẳng định từ những năm chống Mỹ nay vẫn giữ được vị trí của mình, Hải Phòng lại nổi lên những gương mặt mới, những giọng điệu mới cách đây chục năm chỉ được bắt đầu. Nhưng mừng hơn cả đó là sự tìm tòi và không ngừng đổi mới của đa số tác giả, để không bị nhoè lẫn, để vượt lên chính mình, để đích thực là văn chương.

Trong lịch sử, không thiếu gì những sự kiện vĩ đại, những năm tháng huy hoàng đi qua mà không có dấu vết trong văn học. Chúng ra không như vậy, những người viết văn làm thơ Hải Phòng không để vậy, họ viết về chính thời kỳ của mình, về thành phố mình.

Năm 2010 đã đến, kỷ niệm 46 năm ngày thành lập Hội Liên hiệp Văn học Nghệ thuật Hải Phòng, kỷ niệm 5 năm ngày thành lập Hội Nhà văn Hải Phòng, chúng ta biết nhiệm vụ của văn học đối với lịch sử và tương lai rất nặng. Làm ra lịch sử là cả nước, cả dân tộc nhưng phản ánh lịch sử lại chỉ số ít người, trong đó có nhà văn. Chỉ nghĩ đến điều này thôi, những người viết văn làm thơ đất Cảng đã cảm thấy một gánh rất nặng trên vai mình, trong khi chưa có thể nói là đã trả xong gánh nợ lòng đối với quá khứ, càng chưa có thể nói đã san lấp được cho lịch sử những khoảng trống người trước còn để bỏ trong văn chương.

CB

NHỮNG BỨC TƯỜNG

Thơ Trackbacks (0) Bản in góp ý (72)   

Đêm qua sau khi nhận được Email của Nhà văn Văn Công Hùng, Cát Biển- Minh Trí chọn một chùm thơ 3 bài gửi Nhà thơ Trần Ngọc Tuấn. Nhà thơ Trần Ngọc Tuấn hiện đang sinh sống tại Cộng hòa Séc, là chủ bút một tờ báo Việt tại Praha. Rất vui đón đợi anh về ăn Tết ở Việt Nam trong mùa xuân này.

NHỮNG BỨC TƯỜNG - Chùm thơ Minh Trí


NHỮNG BỨC TƯỜNG

Những bức tường khát vọng
dựng bên cột mốc thời gian

Người tìm đến và vượt qua lặng lẽ
người tìm đến và vượt qua ồn ã
người khóc dưới chân tường
người hát dưới chân tường
người chết dưới chân tường

Người lơ ngơ ngoài những bức tường.


TRƯỚC BAN MAI

Trên trái đất còn nhiều người cô đơn
sương mù sớm mai
là nước mắt cả đêm qua họ khóc
mảnh trăng muộn như con thuyền hờn dỗi
sẽ đưa giấc mơ đi đến đâu 

Nơi những mùa trăng không còn trăng nữa
nơi thiên thần cầm trên tay cầu lửa
sáng dần giấc mơ cô đơn
như lời nhắn gửi

Nơi con cú giấu nỗi buồn dưới cánh
đập chập chờn về góc đêm
nấc lên kinh dị khi gặp kẻ ác
trong giấc ngủ khuôn mặt méo mó
tiếng cú quệt vào đêm vết nhọ 

Rồi giấc mơ kỳ diệu
nơi đứa bé đã sinh ra
những đứa trẻ tung lên ban mai
ông mặt trời mà chúng vừa tô vẽ

Và thế là bàn tay thơ ấu
lau sạch sương mù thế gian.


NHỮNG CÂU THƠ BUỒN

Khi em bên anh
anh chợt quên hết những câu thơ buồn
đêm đầy quyến rũ
chan chứa tình trăng mê đắm nụ hôn
và làn hương phóng túng
những câu thơ buồn đang nấp ở đâu... 

Khi em xa anh
những câu thơ buồn gõ cửa căn phòng cũ
không còn trăng và hoa
không còn lời thầm thì êm ái
những câu thơ buồn về ngồi ở góc phòng
tự tay đốt ngọn nến đêm thao thức... 

Khi em quên anh
anh chợt nhớ hết những câu thơ buồn
rượu có mạnh nhường nào
cũng không đưa được những câu thơ ra cửa
trong căn phòng buồn không chừng mực
hình bóng em giờ đang nấp ở đâu... 

MT

Cảm nhận về kiến trúc nông thôn

Tin chung Trackbacks (0) Bản in góp ý (82)   


Cảm nhận về kiến trúc nông thôn


M
ỗi khi nhắc đến nông thôn, người ta thường nghĩ đến cây đa bến nước, sân đình, đến luỹ tre rủ bóng mát trên con đường làng, đến những ngôi nhà giản dị, thoáng mát, với hàng rào râm bụt, vườn cây ao cá... Và ở đó người ta có thể tìm thấy một cuộc sống thanh bình nơi làng quê Việt. Một nét đẹp của kiến trúc thôn quê hẳn làm xao lòng mỗi người trong chúng ta vì chắc chắn ai cũng có một quê hương để yêu thương, để nhớ. Những bờ xôi, ruộng mật, những cầu tre nhỏ với nón lá nghiêng che... liệu một ngày nào đó chỉ còn trong câu hát. Nhạc sỹ Dương Thụ từng nói: "Mỗi đô thị đều có những câu chuyện kể về mình... và có thể cũng chẳng có gì đáng kể cả. Vậy thì lấy gì để mà nhớ nhung".
Vậy là mỗi làng quê đều có những câu chuyện của riêng mình. Những ngôi nhà nông thôn tường được xây bằng gạch đất nung dày khoảng 20cm, mạch được để trần hay trát. Hướng nhà chính bao giờ cũng quay về phía Nam, Đông Nam để đón gió mát thổi từ hướng Nam, hơi nước từ mặt ao trước sân vào nhà. Lưng nhà ở phía Bắc không có cửa, hai hồi có cửa sổ nhưng thường rất nhỏ để chống cái rét của gió mùa Đông Bắc. Ba gian chính để thờ, tiếp khách. Hai chái để ở, cất đồ gia dụng quý giá và để chứa thóc, gạo. Cái nhà phụ thường nhỏ hơn, mái lợp rơm dùng để làm bếp và nơi chứa công cụ nhà nông. Khi cần, chủ nhà có thể tháo các cánh cửa gỗ, nới rộng không gian từ nhà, qua hiên, đến tận sân thành một không gian mở phục vụ cả năm, bảy chục người ngày lễ... Khu vườn bao quanh thường có hàng cau trước ngõ, những bụi chuối phía sau. Gia đình khá giả thì ngôi nhà có năm gian cổ với bậc thềm cao vút, ngói âm dương mát lạnh, cửa gỗ uy nghi.
Người nông dân Việt Nam vốn có kinh nghiệm ngàn đời trong việc xây dựng ngôi nhà dân gian. Họ đã thành công trong việc đắp sông ngòi, ao hồ, đường sá, trồng cây tạo nên môi trường trong sạch, thoáng mát. Người Việt Nam đã vận dụng tính 2 mặt của phong thủy một cách hợp lý, kết hợp rất có hiệu quả giữa cấu trúc công trình với nội và ngoại thất, hướng nhà theo hướng gió mát. Công trình nhà ở vừa chống được mưa nắng, gió bão vừa đón được gió mát vào nhà. Vật tư được sử dụng đúng với các bộ phận của công trình để xây nên một ngôi nhà vừa tiết kiệm, vừa bền vững. Những ngôi nhà như vậy, những cái vườn như vậy, tạo nên những cái làng có luật, có lệ của nó như là một cơ thể sống thống nhất và đã tồn tại với lịch sử ngàn năm.

Vậy mà sau những biến cố lịch sử của chiến tranh đã hủy hoại rất nhiều di sản kiến trúc. Rồi quá trình đô thị hoá đã biến đổi nhanh chóng kiến trúc nông thôn Việt Nam. Thiếu quy hoạch, thiếu quản lý, mạnh ai nấy làm miễn là có tiền, đâu có đất trống là xây với đủ các kiểu nhà, đã phá vỡ kiến trúc làng quê Việt. Xã hội nông thôn đã có những thay đổi lớn lao. Cái làng ngày xưa, phương thức sản xuất ngày xưa không còn nữa. Người nông dân đang giàu lên, nông thôn ngày càng ít nhà lá, nhà đất, nhiều nhà gạch, nhà bê tông. Kiến trúc nông thôn buông lỏng, đi vào một số làng cũng giống như phố. Nông thôn xây đường, rồi hai nhà mặt tiền nhìn nhau, trong khi ngày xưa thì vườn trước ao sau.
Cảnh quan thay đổi, các mặt của đời sống văn hoá, tinh thần cũng có những biến đổi. Kiến trúc nông thôn Việt Nam với tư cách là một nghệ thuật tổ chức không gian truyền thống đang bị bỏ mặc cho sự thao túng của những vật liệu, thiết bị rẻ tiền, hào nhoáng và rỗng tếch về văn hóa, phải chăng đó là sự đổi đẹp lấy xấu thật vô tình trong xây dựng. Có thể nói kiến trúc nông thôn hiện nay không được hướng dẫn cả về quy hoạch lẫn thẩm mỹ. Nhà cửa, ngõ xóm xây dựng ít khi theo quy hoạch tạo nên sự hỗn độn, sự chen chúc, phá vỡ khung cảnh thôn quê vốn dĩ nền nã, nhuần nhị.

Nhìn ra nước ngoài, những nước tiên tiến như Nhật hay Pháp phát triển mạnh mẽ và hiện đại thế nào mà vẫn rất coi trọng vốn văn hoá cổ. Những không gian kiến trúc truyền thống được người Nhật hết sức giữ gìn. Ở Pháp, trước khi phát triển đô thị, người ta quy hoạch vùng ngoại ô và nông thôn. Nếu quy hoạch tốt ngoại ô và nông thôn thì không ai dại gì đổ xô về thành phố. Đó là giải pháp mà người Pháp mới thực hiện được trong một thập niên trở lại đây sau khi họ thấm thía hậu quả từ sự phát triển quá nhanh của đô thị.

Kiến trúc nông thôn không chỉ là không gian sống mà còn là không gian văn hóa truyền thống. Đã đến lúc đặt vấn đề bảo tồn và phát huy những làng cổ có giá trị không kém gì những khu phố cổ. Ở Hải Phòng có những làng cổ ở Vĩnh Bảo, Tiên Lãng, Thuỷ Nguyên, An Dương, Làng đảo Việt Hải- Cát Bà,.. Rất cần có sự hướng dẫn người nông dân xây nhà làm sao cho phù hợp cũng như giới thiệu những mô hình làng đẹp thôn quê. Các ngành chức năng, các kiến trúc sư cần vào cuộc để giữ lại và phát huy những giá trị văn hóa vật thể và phi vật thể của làng quê Việt. Trong đó, vấn đề bảo tồn, phát triển kiến trúc nông thôn cần được coi trọng để ngăn chặn sự phát triển xô bồ. Kiến trúc nông thôn đang đứng trước những vấn đề về mô hình, quy hoạch, thiết kế, kiến trúc, tổ chức cuộc sống cộng đồng, duy trì môi trường cảnh quan, bảo vệ môi trường... đó là những vấn đề gay gắt không kém các đô thị.
Việc cần làm ngay là xây dựng những giải pháp về kiến trúc nông thôn, xác định mô hình kiến trúc hợp lý, mang tính hiện đại và đậm đà bản sắc dân tộc để chuyển tải đến nông dân và các vùng nông thôn. Xây dựng quy hoạch không gian làng, phổ biến tiêu chuẩn, mô hình mẫu. Quy hoạch nông thôn trên cơ sở "xã hội hóa" để nhân dân tham gia chuẩn bị không gian sống cho chính mình. Với nông thôn mỗi vùng sẽ có sắc thái riêng nhờ địa thế, tập quán sống khác nhau. Việc thiết lập quy hoạch tổng thể cho không gian làng dựa trên cơ sở thực tế từng địa phương. Cũng như việc tìm ra mô hình kiến trúc nhà ở thực sự hợp lý cho nông thôn hiện đại, sẽ giúp cho không gian làng truyền thống tìm được vị trí trong sự phát triển hướng tới tương lai.

CB

Chùm thơ năm mới

Tin chung Trackbacks (0) Bản in góp ý (76)   


Chào đón năm mới 2010, Câu lạc bộ Thơ Cung Văn hóa LĐ HN Việt Tiệp HP vừa tổ chức Đêm liên hoan và giao lưu thơ. Tới dự và chia vui có các đồng chí đại diện Cung Văn hóa LĐ HN Việt Tiệp; Đại diện Nhà Xuất bản Hải Phòng; Đại diện CLB Thơ Làng Văn hóa Vân Tra; Cùng Ban Chủ nhiệm và hơn 40 Hội viên CLB Thơ Cung VH LĐ HN Việt Tiệp.
Nhà thơ Phạm Ngà, Chủ nhiệm CLB Thơ Việt Tiệp đã có bài phát biểu khai mạc chương trình; Điểm lại quá trình hoạt động trong 20 năm qua của CLB Thơ Việt Tiệp với những con số và thành tích đầy ấn tượng; Những kết quả hoạt động của CLB Thơ Việt Tiệp trong năm 2009 và kế hoạch hoạt động năm 2010 của CLB Thơ Việt Tiệp.
Thay mặt lãnh đạo Cung VH LĐ HN Việt Tiệp, đồng chí Đỗ Văn Tuấn, Trưởng phòng Nghiệp vụ Văn hóa Thể thao, đã có bài phát biểu đánh giá cao những thành tích hoạt động của CLB Thơ Việt Tiệp trong 20 năm qua, cùng những lời chúc tốt lành gửi đến toàn thể Hội viên CLB Thơ Việt Tiệp nhân năm mới 2010.
Những ly rượu vui được rót lên cho hồng gương mặt mừng năm mới. Nhà thơ Minh Trí, Phó Chủ nhiệm CLB Thơ Việt Tiệp đã dẫn một chương trình giao lưu thơ đầm ấm và tình cảm. Cát Biển xin trân trọng giới thiệu đến độc giả một Chùm thơ năm mới rút ra từ đêm thơ giao lưu trên.

CHÙM THƠ NĂM MỚI

Hoàng Thanh Tâm

ĐỢI

Đợi ai ở bến sông làng
Hàng mi cong, ánh trăng vàng cong theo
Thuyền ai nghiêng mạn buông neo
Gác nửa mái chèo vào ánh trăng cong


Thuý Ngoan

NHÀ EM

Nhà em cao lưng chừng giời!
Một mình vừa đứng, vừa ngồi thở than
Cũng không vất vả gian nan
Bằng câu thơ viết dở dang cuộc đời
Phận em bèo dạt mây trôi!
Bến sông thì cạn, bến đời thì sâu
Đàn ông "chết" hết còn đâu
Em làm cây nóc bắc cầu mà qua
Bao giờ bóng tắt chiều tà
Ngôi nhà cao ấy la đà bay theo!


Quang Tuyến

CHIỀU KHÔNG EM

Phút gần chưa kịp nói lời
Đã tương tư một mảnh trời trăng cong
Ngỡ từ lâu tắt lửa lòng
Con tim giờ lại chết trong mắt buồn
Lắng nghe sương suối đầu nguồn
Quên đời biển động sóng cuồn cuộn xa
Bờ xanh mộng mị cỏ hoa
Dẫu vàng lá rụng thu già vẫn yêu!
Tháng năm còn có bao nhiêu
Mang thơ đắp cả những điều không em


Nguyễn Đình Kiên

GỬI CHỊ

Sòn sòn theo khúc hát ru
Đời như một chiếc đèn cù quẩn quanh
Người ta như lá tươi xanh|
Trông mòn con mắt, còn mình héo khô
Gia tài một gánh con thơ
Oằn lưng chị biết bao giờ mới xong
Kiếp nghèo những rối bòng bong
À ơi! sao cứ đèo bòng nắng mưa?
Tiếng gà gáy sớm, gáy trưa
Con cò đi đón cơn mưa chưa về...


Nguyễn Thị Loan

LỜI RU THẮP LỬA
Tặng TN

Phong ba bão táp một thời
Trái tim thắp lửa bạc trời đêm đông
Ru cho đôi má con hồng
Nỗi đau lòng mẹ vun trồng trái non
Cuộc đời vì cháu, vì con
Buồn thương nén lại cho tròn niềm vui
Tháng năm chia ngọt sẻ bùi
Con khôn lớn - mẹ dập vùi đắng cay
Tái tê một mảnh trăng gầy
Lời ru thắp lửa vơi đầy giấc mơ
"Nón không quai" buộc bằng thơ
Tôi như trăng khuyết bây giờ còn đau
Nỗi buồn càng lấp càng sâu
Lấy câu thơ dại bắc cầu mà đi


Nguyễn Cường

THÁNG CHẠP

Tháng chạp muộn mà
Khói đồng xa nhạt nhoà mây xám
Vệt nắng đông hanh hao gò má rạn
Góc tre làng
Thấp thoáng tuổi thơ
Tháng chạp bao giờ cũng ngắn
Nghiêng giấc đêm nằm
Chấp chới âm dương
Chiều nắng tắt
Người về trong gió muôn phương
Ký ức thời gian
Chuyến tàu nhanh chạy vào dĩ vãng
Tháng chạp vội vàng
Vắng lặng trăng sao
Lẫm chẫm đào
Xoè lửa đón xuân sang
Chênh chao khúc hát giao thừa...


Lương Thế Phiệt

CLB Thơ Vân Tra

HÁT XẨM

Câu nghe như cấu như cào
câu như mảnh vỡ rạch vào nhân gian
Câu thì nắng xối mưa chan
Câu đem trong đục hoà tan kiếp người
Bên anh đàn nhị rã rời
bên em trống phách từng lời kêu đau
Rút từ gan ruột nát nhàu
bà tôi chắp lại thành câu xẩm buồn
Chết thì bó chiếu mà chôn
Đồng chinh xấp ngửa gọi hồn xác xao
Tiếng đau như cấu như cào
Hồn cha ông những tác tao một thời
bây giờ từng tiếng xẩm rơi
Vẫn như xa xót kiếp người quanh ta.

CLBTVT

Những Hồ nước trong lòng phố Cảng

Truyện làng văn nghệ Trackbacks (0) Bản in góp ý (70)   


Những Hồ nước trong lòng phố Cảng

Nhân chuyến về thăm Việt Nam, anh Ozi- Việt kiều Úc có tâm sự với Cát Biển về các địa danh Hải Phòng. Hải Phòng là thành phố Cảng với bờ biển nổi tiếng, với những dòng sông lịch sử,... Và đặc biệt Hải Phòng còn có những Hồ nước nhiều mơ mộng và cũng đầy kỷ niệm trong lòng thành phố Cảng. Nhân dịp năm mới 2010, Cát Biển xin kể về "Những Hồ nước trong lòng phố Cảng" tặng anh Ozi và các bạn nhé.


HỒ AN BIÊN

Hồ An Biên có diện tích xấp xỉ 170.000m2, sâu trung bình khoảng 3m, hồ nằm trên đất phường An Biên. Hồ An Biên vốn là một chí lưu của sông Lạch Tray, nối với sông Cấm, dần dần bị ngăn lại thành hồ. Đầu thế kỉ 20, dân chài thôn Đà Cụ, nay là phường An Đà, và làng Đông Khê có thể dong thuyền dễ dàng từ hồ An Biên ra sông Cấm, sông Lạch Tray. Đường ngăn hồ An Biên với hồ Quần Ngựa thuộc Cung Văn hoá Thể thao Thanh Niên, hình thành khi chính quyền Pháp lập khu thể thao ở vùng An Biên. Hồ An Biên là hồ lớn nhất trong thành phố, giữ vị trí quan trọng về cảnh quan, môi sinh và kinh tế. Quanh hồ có các công trình kiến trúc cổ như: Chùa An Đà, Miếu An Đà, đều ở ven hồ, Chùa Đông Khê, Đình Bắc, Nhà thờ Nam Pháp,... và các công trình văn hoá được xây dựng như: Cung Văn hoá Thể thao Thanh Niên, Cung Văn hoá Lao động Hữu nghị Việt- Tiệp, Cung văn hoá thiếu nhi, Đài tưởng niệm anh hùng liệt sĩ, Công viên An Biên,... Chiều chiều, bạn có thể dạo mát quanh hồ An Biên, ngắm những cánh diều muôn màu sắc được thả lên bầu trời với tiếng sáo véo von thanh bình.


HỒ TAM BẠC

Hồ Tam Bạc thuộc quận Hồng Bàng và Lê Chân. Diện tích hồ xấp xỉ 50.000m2, sâu trung bình khoảng 3m. Hồ Tam Bạc thuộc địa phận xã An Biên cũ, nay thuộc dải trung tâm công viên thành phố. Năm 1885, Pháp mở rộng, nắn thẳng lạch Liêm Khê của xã An Biên làm thành kênh vành đai. Năm 1925, lấp kênh, chỉ để lại một đoạn ngắn ở ngã ba Tam Kỳ, gọi là vụng Bônnan ăn thông sang sông Lấp. Hồ mang tên Tam Bạc kể chưa thật chính xác vì sông Tam Bạc chính âm là sông Trạm Bạc, chỉ là sông ở gần kề sông Lấp trước đây, vốn là con ngòi Liêm Khê được cải tạo thành sông đào. Năm 1895, được cải tạo lớn, đắp đập ngăn với sông Tam Bạc để thông đường Trần Nguyên Hãn với đường Quang Trung. Do đó, hồ bị thu hẹp chỉ còn lại như hiện nay. Trước khi cải tạo lớn năm 1985, Hồ chính là đoạn sông Lấp từng đi vào câu hát trong bài hát Thành phố Hoa Phượng đỏ, nhạc Lương Vĩnh, lời thơ Hải Như: "Những hẹn hò bên bờ sông Lấp...". Hai dãy phố bên hồ Tam Bạc là Quang Trung và Nguyễn Đức Cảnh là những phố sầm uất. Hai đầu hồ là hai công trình kiến trúc nổi tiếng đó là Chợ Sắt và Trung tâm Triển lãm Thành phố. Quanh hồ Tam Bạc có nhiều phượng vĩ đỏ rực hoa làm lên biểu tượng "Thành phố Hoa phượng đỏ".


HỒ MẮM TÔM

Hồ Mắm Tôm thuộc quận Ngô Quyền. Diện tích hồ xấp xỉ 2.400m2, sâu trung bình khoảng 2,5m. Hồ Mắm Tôm giáp với hồ Tiên Nga và hồ An Đà. Gọi hồ Mắm Tôm vì hồ do ông Kí Mắm Tôm đào đất vượt thổ làm nhà mà hình thành. Nhà này làm tại ngõ Fiôlô (Fiolecau), dân gọi Phiêu Lô, tức ngõ Phùng Khắc Khoan số 275 phố Lê Lợi hiện nay. Có người nói ông "Ký Mắm Tôm" là người thu ngân ở Sở vệ sinh. Ông cần cù, tiết kiệm, thường chỉ ăn cơm với mắm tôm, để dành tiền mua nhà cho thuê. Dãy nhà của ông Ký Mắm Tôm trong ngõ, về sau con cháu ông mở hiệu Thiên Nhiên, chuyên kinh doanh hạt rau giống. Đến nay ngôi nhà của ông Ký Mắm Tôm vẫn còn đó gắn với Hồ Mắm Tôm như một chứng nhân lịch sử trong chuyện cũ Hải Phòng vậy.


HỒ SEN

Hồ Sen thuộc địa bàn xã Hàng Kênh cũ, nay thuộc phường Hàng Kênh, quận Lê Chân. Hồ vốn khá rộng nhưng sau 1975, đã bị lấp một phần. Diện tích Hồ Sen hiện nay xấp xỉ  20.000m2, chỗ sâu nhất khoảng 2,5m. Trước kia, hồ thả toàn sen hồng, nên gọi là Hồ Sen. Hồ Sen ở trung tâm quận Lê Chân, đối diện với Quận Uỷ, Uỷ ban nhân dân, Nhà Văn hoá quận Lê Chân. Xung quanh Hồ Sen được cải tạo sạch đẹp phong quang, có những nhà hàng ẩm thực thú vị bên đường dạo của hồ. Hồ giáp với các phố Nguyễn Công Trứ, phố Chợ Con, phố Hồ Sen và ngõ Hàn Lâm. Có một điểm thú vị là sau mỗi cơn mưa người ta hay tập trung rất đông ở hồ Sen để vớt một loại sinh vật tên là "Thuỷ trần" về nuôi cá cảnh. Nhắc đến Hồ Sen là nhắc đến một hồ nước trong mát lên thơ ở Hải Phòng.


HỒ TIÊN NGA

Hồ Tiên Nga thuộc quận Ngô Quyền, diện tích khoảng 30.000m2, chỗ sâu nhất trung bình 2,5m. Hồ nằm trên địa bàn xã Gia Viên cũ. Cùng với hồ An Biên, hồ Tiên Nga thông với lạch thoát triều đổ ra sông Cấm. Lạch này nay được nắn thẳng, chảy qua cầu Đá, rẽ trái qua cầu Tre, đổ ra sông Cấm. Trước kia hồ rất rộng và sâu, là nguồn cá tôm rong rêu tự nhiên, lại được thả thêm rau bèo để chăn nuôi lợn. Từ trước đến nay, hồ Tiên Nga và hồ An Đà vẫn giữ vai trò điều hoà nước cho một khu vực rộng lớn. Gọi là hồ Tiên Nga vì hồ nằm gần đền Tiên Nga của làng Cấm. Ven hồ Tiên Nga có chùa Cấm, đình Cấm, chùa Đông Khê,... Qua hồ Tiên Nga, ta như chìm trong những câu chuyện cổ ngày xửa, ngày xưa của người dân đi khai khẩn mảnh đất "Hải tần Phòng thủ".

Ngoài những Hồ nước trong lòng phố Cảng mà Cát Biển giới thiệu ở trên, Hải Phòng còn những hồ nước cũng thật đẹp và ý nghĩa như: Hồ Phương Lưu ở phường Phương Lưu, Hồ Ông Báo ở phố Trần Nguyên Hãn, Hồ Hạnh Phúc ở quận Kiến An,.. góp phần tôn tạo cảnh quan kiến trúc và làm sạch đẹp môi trường của thành phố Hải Phòng mến yêu.

CB

ĐƯỜNG SƯƠNG

Thơ Trackbacks (0) Bản in góp ý (82)   


Đường sương - Chùm thơ Minh Trí


ĐƯỜNG SƯƠNG

Hơi thở biển trườn lên lối nhỏ
ban mai đầy gió, đường sương
anh kịp nhận ra đêm vừa khuất
sau gốc rạ làng quê chớm đông
và lá cỏ mở mắt
ven đầm nước ngái nồng
những nhát cắt tia nắng hồi hộp
bàn chân ai nhón bước sớm mai
hơi rơm bếp đốt lên ấm cúng
gọi say mê chân chất một ngày
những câu thơ đẹp như tình biển
vẫn chờ người ở cuối lối sương
khi anh đến bến mai bừng thức
cánh buồm xanh mơ ước lên đường.


CẢM XÚC

Gọi về đầu cơn đau đổ lá
những khát thèm ngây thơ
màn đêm mộng ảo
cành khô gầy
cây xoè ra bàn tay mơ mộng
lướt trên phím mưa
người thất thế sống bằng kỷ niệm
giai điệu xưa
không gian đêm nay đẹp và buồn
ta cũ đi như vỏ cây
để biết thương ta - chiếc rễ non
hăm hở khoan vào lòng đất
nhiệt tình buồn
nhiệt tình yêu
nhiệt tình gọi cơn đau đổ lá
đi vào khát thèm thơ ngây.


BIỂN
ĐÊM

Ngàn vì sao rơi vào ngàn con sóng
biển vỡ thành triệu triệu lân tinh
kia nổi trôi vùng sứa
dạt vào bờ kiếp chu du
kia rong rêu bọt biển
đắng cay dạt phía sương mù
những tiếc nuối vùi sâu vào cát
sóng cứ hôn năm tháng dã tràng
biển còn đầy khao khát
đêm còn bạn còn tôi
xin được ví biển là thi sĩ
hát gọi một hoài bão xa xôi.

MT

Ngõ nhỏ trong lòng phố Cảng

Truyện làng văn nghệ Trackbacks (0) Bản in góp ý (98)   


Ngõ nhỏ trong lòng phố Cảng

Rời con phố phồn hoa náo nhiệt, bạn rẽ vào những ngõ nhỏ. Và thật bất ngờ khi bạn chợt nhận ra bao nét đáng yêu thầm lặng cùng với những dấu tích lịch sử  khắc ghi trong từng lối ngõ kia. CB xin giới thiệu một số ngõ nhỏ rất đặc trưng trong lòng phố Cảng Hải Phòng.

Ngõ Cấm

Ngõ Cấm là tên cũ của phố Cấm hiện nay, số 133 phố Lê Lợi, thuộc phường Gia Viên, quận Ngô Quyền. Ngõ Cấm đi từ phố Lê Lợi đến đường Đông Khê. Phần rải nhựa dài 432 m, rộng 3,5 m. Lúc mới mở, gọi đường Cấm vì hình thành trên đường làng Cấm. Ngõ chính gồm hai đoạn, tạo thành hình thước thợ. Đoạn thứ hai dẫn tới làng Đông Khê. Trong ngõ, phía trái, có nhà thờ Cấm, đình làng Cấm và chùa Cấm cũng ở cạnh ngõ này. Khi rời Nam Định ra Hải Phòng, lúc đầu Nguyên Hồng sống và dạy học ở xóm Cấm. Ông đã viết về tình hình nơi này những năm 1936 trong cuốn Những ngày thơ ấu: "Xóm tôi là cái xóm mà người lạ lớ rớ đi vào thì không thể nào tránh được nạn bớp mũ, giật khăn ở những con đường chật hẹp, ngoằn ngoèo, hai bên ngập ngụa rác rưởi...". Ngày nay ngõ Cấm sạch đẹp phong quang hơn và là một trong những phố ngõ đặc trưng ở đất Cảng.

Ngõ Đá

Ngõ Đá ở số 43 phố Trần Phú và 32 phố Trần Nhật Duật hiện nay. Ngõ dài khoảng 100m, đi từ phố Trần Phú đến phố Trần Nhật Duật. Đánh số theo số nhà cạnh đầu ngõ. Lối đi lát các phiến đá xanh rộng 0,4 m cả hai bên, cách nhau khoảng 1 m trải suốt đầu ngõ, vì thế trước đây gọi là ngõ Đá. Trong ngõ có một biệt thự, nhà chính cao hai tầng. Biệt thự vốn có sân cảnh, bể cá vàng và sân trồng nho vốn là một trong những địa chỉ biệt thự cổ và đẹp ở phố Cảng trước đây.

Ngõ Thối

Ngõ cụt, dài khoảng 70m trên phố Mê Linh. Rải đá và cát. Trong ngõ có một ngõ nhỏ ở phía trái. Thời Pháp thuộc và tạm bị chiếm, ngõ có lối thông với ngõ Trí Tri và ngõ Đông An. Trước đây, ở cuối ngõ, rẽ phải, có lối đi nằm giữa tường sau Trường trung học Ngô Quyền và tường bên Trường đạo Xanh Jôdep (Saint Joseph) cũ thông ra phố Nguyễn Đức Cảnh. Tên ngõ nghe hơi khó chịu nhưng ở ngõ Thối lại có nhiều quán ăn rất ngon.

Ngõ Thanh Bình

Ngõ cụt, dài khoảng 100 m, ở phố Cầu Đất, đầu ngõ có quán sách Thanh Bình được mở vào khoảng năm 1952- 1953. Thời Pháp thuộc, ngõ rộng và dài, nhà còn thưa thớt; trong ngõ có một số biệt thự nhỏ và khuôn viên rộng. Về sau, do như cầu nhà ở, nhà cửa được xây dựng thêm, tạo nhiều ngõ nhỏ, khuôn viên các biệt thự cũng hẹp dần, không còn thoáng đãng như cũ. Ngõ chính nằm ở khoảng giữa, gần như song song với hai phố Nguyễn Đức Cảnh và Lê Chân. Vào ngõ bây giờ ta lại nhớ về nhà sách Thanh Bình một thời nổi tiếng Hải Phòng.

Ngõ Thuận Thái

Ngõ cụt, dài 133m, ngõ có tên Ruelle Shun Thai, Thuận Thái là tên phiên từ chữ Shun Thai. Trước đây, trong ngõ có những nhà do một chủ xưởng dệt, người Hoa tên là Shun Thai xây dựng. Năm 1954, ngõ mang tên ngõ Trưng Trắc. Sau 1955, đổi thành ngõ 17 phố Hai Bà Trưng. Ngõ Thuận Thái ngày nay khá thẳng, mặt đường rải đá, nhà hai bên được xây tương đối có quy hoạch.

Ngõ Ao Than

Ngõ dài khoảng 80 m, đi từ phố Lê Lai đến ngõ Lạc Xuân Đài. Mặt đường trong ngõ rải đá. Lúc mới mở, ngõ gọi là Ruelle Ao Than. "Ao Than" trên thực tế nằm rải rác trên cả một vùng rộng lớn của khu vực Lạc Viên. Ngoài ra, suốt dọc hai bên đường xe lửa và dọc phố Lê Lợi, phố Lương Khánh Thiện đoạn từ ga Hải Phòng lên Ngã Sáu, còn có nhiều nơi cũng được gọi là Ao Than, vì trước kia là đầm ao được lấp bằng xỉ than của Sở hoả xa, Sở máy tơ... Dân trong ngõ hầu hết là người lao động; thời Pháp thuộc, chủ yếu là công nhân Nhà máy tơ, Nhà máy điện, Nhà máy chai, vv.; một số sống bằng nghề phu phen, tạp dịch, mua bán rong,... Ngõ Ao Than ngày nay sạch đẹp hơn cùng với kỷ niệm thợ thuyền một thời.

Ngõ Lý Tiêm

Ngõ thuộc phố Trần Quốc Toản. Lúc mới mở gọi là ngõ Lý Tiêm, trước kia nhà đầu ngõ là nhà của một lí trưởng tên là Tiêm nên ngõ có tên như vậy. Năm 1954, mang số 48 Trần Quốc Toản. Đầu ngõ khá rộng, càng vào sâu càng hẹp. Đoạn từ giữa ngõ đến ngõ Lý Phình, số 30 phố Hàng Kênh, bề ngang chỉ còn rộng khoảng 2m. Lối đi lát tấm đan. Đoạn cuối ngõ nơi hai ngõ Lý Tiêm và Lý Phình giáp nhau, nên đất thấp nên thường bị ngập nước.

Ngõ Lý Phình

Ngõ thông với ngõ Lý Tiêm, 56 phố Trần Quốc Toản. Trước 1945, gọi là ngõ Lý Phình. Lúc đầu, ngõ mang tên một lý trưởng làng Hàng Kênh tên là Đặng Tước, có con đầu tên Phình. Dân cư xưa trong ngõ thưa thớt, phần lớn là nhà tranh vách đất, chỉ có nhà xây của Lý Phình. Đến vài chục năm sau, vùng này mới có thêm một nhà xây nữa của Ký Khánh. Trong ngõ có nhiều ngõ nhỏ, mặt đường lát tấm bê tông.

Ngõ Sơn Hà

Ngõ đi từ phố Lạch Tray đến ngõ Đình Đông. Ngõ khá dài và quanh có, trong có nhiều ngõ nhỏ. Ngõ chính thông với ngõ Đình Đông. Ngoài ta có lối tới ngõ Nhà thờ, 116 phố Trần Quốc Toản, và ngõ Ký Phủ, 74 phố Đình Đông, ngõ Văn Minh, 229 phố Hàng Kênh. Ngõ nằm bên cạnh xưởng sơn Nguyễn Sơn Hà nên có tên là ngõ Sơn Hà. Ông Nguyễn Sơn Hà (1894 - 1980), nhà tư sản dân tộc có tinh thần yêu nước, trong Tuần lễ vàng  năm 1946, đã đóng góp cho chính phủ 105 lạng vàng; Ông là đại biểu Quốc hội từ khoá I đến khoá VI. Khi Pháp gây hấn chiếm Hải Phòng, ông có người con trai là Sơn Lâm hy sinh trong chiến đấu bảo vệ thành phố tháng 11.1946.

Ngõ Lạc Xuân Đài

Ngõ dài 395 m, từ phố Lê Lai đến phố Đà Nẵng. Mặt đường rải đá sơ sài. Vốn là lối vào rạp hát Lạc Xuân Đài. Xuân Đài là tên người chủ rạp hát này, đồng thời cũng là chủ rạp Văn Minh ca quán ở phố Hàng Kênh. Đầu ngõ rộng nhưng nhà cửa không được quy hoạch, đường còn xấu, gồ ghề, khúc khuỷu. Đoạn thứ hai ở đường Lạc Viên cũ khá dài, chiều rộng không đều, có rất nhiều ngõ nhỏ. Một bên thông ra phố Đà Nẵng, một bên đi sâu vào xóm Lạc Viên cũ. Các đầm ao cũ trước đây chưa lấp hết, nằm rải rác bên lối ngõ, thành nơi đổ rác, nuôi cá, thả rau hoặc để không. Nay trong ngõ đã xây dựng nhiều khu nhà mới để bán còn gọi là nhà kinh doanh.

Ngõ Tây Đen

Ngõ dài khoảng 100 m, lối đi lát tấm đan bê tông. Hai ngõ nhánh vuông góc với ngõ chính ở cuối phố. Nhánh bên trái dẫn tới ngõ Nguyễn Khắc Hiếu 179 phố Lê Lợi, dài khoảng 30 m, lối đi lát tấm đan bê tông. Nhánh bên phải, kéo dài tới ngõ Nguyễn Đình Chiểu, 239 phố Lê Lợi và tới tận ngõ Phùng Khắc Khoan, 275 Lê Lợi. Thời Pháp thuộc ngõ 191, Lê Lợi gọi là ngõ Tây Đen. Tên gọi này hiện nay nhân dân vẫn dùng, có nguồn gốc từ việc một người da đen đã xây một số nhà trong ngõ để cho thuê. Cuối ngõ chính là chùa Vân Quang, ngôi chùa cổ của làng Cấm xưa.

Ngõ Đồng Lùn

Ngõ dài 208 m ở 239 phố Lê Lợi. Lúc đầu, dân quen gọi ngõ Đồng Lùn, vì trong ngõ có một điện tư của cô Đồng Lùn. Sau khi cô đồng mất, ngôi đền tàn tạ nhưng tên ngõ nay vẫn thông dụng. Ngày ấy, có người còn gọi là ngõ Rạp Chèo, vì trong ngõ có một rạp chèo nhỏ. Năm 1954, mang tên ngõ Nguyễn Đình Chiểu. Đến trước 1955, dân cư trong ngõ còn thưa thớt nhưng nay nhà cửa đã mở rộng đến cánh đồng Đông Khê. Nay vào trong ngõ có ai còn nhớ đến điện cô Đồng Lùn nổi tiếng một thời.

Ngõ Đào Ký

Ngõ Đào Ký chính là ngõ Đặng Kim Nở ngày nay, là ngõ 262 phố Hai Bà Trưng và 97 phố Nguyễn Đức Cảnh. Phần rải nhựa dài 251 m. Lúc mới mở, gọi là ngõ Đào Ký. Tức Ký Đào, người trước kia có nhiều nhà cho thuê trong ngõ. Sau 1945, vẫn gọi ngõ Đào Ký. Năm 1954, đổi gọi ngõ Chu Mạnh Trinh. Năm 1964, đổi gọi ngõ Đặng Kim Nở, tên một chiến sĩ cách mạng nổi tiếng ở Hải Phòng.

Ngõ Hàng Gà

Ngõ đi từ phố Hai Bà Trưng đến phố Nguyễn Đức Cảnh. Phần rải nhựa dài 270 m. Lúc mới mở, gọi là ngõ Hàng Gà. Năm 1954, đổi là ngõ Phan Văn Trường. Sau 1955, lấy lại tên gọi là ngõ Hàng Gà. Sau đó đổi gọi là ngõ 322 phố Hai Bà Trưng và 119 phố Nguyễn Đức Cảnh. Ngõ chính thẳng, trong có nhiều ngõ nhỏ, có lối thông được sang ngõ 262 phố Hai Bà Trưng và ngõ Đặng Kim Nở 97 phố Nguyễn Đức Cảnh. Trong ngõ có nhiều nhà cải tạo lại và nhiều nhà tập thể 3 tầng được xây thêm sau 1975 mang nét kiến trúc đặc trưng.

Và còn nhiều những ngõ nhỏ khác cũng thật thú vị trong phố Cảng như: Ngõ Cô Ba Chìa số 147 phố Lê Lợi. Thời thuộc Pháp, trong ngõ có ngôi nhà lớn của vợ Pastia nên gọi thế; Ngõ Cô Giang, 138 phố Hai Bà Trưng. Tên ngõ là tên Nguyễn Thị Giang, bạn chiến đấu và vợ chưa cưới của Nguyễn Thái Học; Ngõ Tám Gian; Ngõ Sơn Lâm; Ngõ Tò Võ;... Rồi Ngõ Bà Tài số 17 phố Phạm Hồng Thái nơi cơ quan đầu não chỉ đạo phong trào công nhân Xi Măng, Máy Tơ, Máy Chai, Máy Chỉ từng đặt ở ngõ này;... CB và các bạn đã bao lần thấy cảm giác bồi hồi xao xuyến khi lạc vào một ngõ nhỏ trong lòng phố Cảng mến yêu của chúng mình.

CB

Giấc mơ buồn

Thơ Trackbacks (0) Bản in góp ý (84)   


Giấc mơ buồn - Chùm thơ Minh Trí


NEO LẤY BẾN NÀY 

Tôi làm sao gom hết lá vàng
tất cả gió triền sông cũ kỹ
ngôi nhà cắm xiên bờ nước
những nỗi buồn xao xác bay đi
trời chiều dâng khoảng vắng không lời
tôi ngồi xuống đá hoang nghe sông thở
chừng như mùa thu vỡ
trong nỗi niềm mưa lá cuối sông
tôi ngồi đón mùa đông
theo con nước ôn hoà vào bến
mối tình theo cánh chim không hẹn
chất ngất về an ủi hồn tôi
bạn bè tôi ở cuối chân trời
trên thượng nguồn nằm nghe sông thở
viết câu thơ lượng thứ
khúc du mục theo sóng sông trôi
vẫn biết tôi neo lấy bến này
và chiều chiều ngồi bên con nước
tôi vẫn còn mơ ước
để có thể hát với dòng sông.


GIẤC MƠ
BUỒN

Giấc mơ buồn day dứt không tan
có phải tiếng mưa đồng vọng
lịm trong từng thớ đất
tôi ngợp hơi thở cỏ xanh
đừng hát nữa vạt buồn dai dẳng
qua một thời lành như con cuốc
đợi trái ngọt rụng xuống lòng sông
tiếng mưa xa chưa dứt
giấc mơ buồn day dứt không tan
tôi yêu đất thì tôi còn đất
cỏ cựa mình xanh rợn không gian


ĐÊM SƯƠNG


T
ừng làn sương mềm choàng vai thân tình lắm
phố lạnh điếng người
đèn cao áp hắt ánh nhìn chằm bặp
gạch vỉa hè nhớp nhơ theo sát bước chân đêm
chiếc lá như nụ cười xanh ướt át
rụng xuống nỗi buồn trăng
pha vào đêm gam le lói
soi con đường nhỏ ra bến sương
có ngôi nhà hoa đào
cơn mơ ứ đầy giấc ngủ
gió từ đâu thổi về giục giã
mùa nhấc tôi như nhấc một nụ đêm
quên không khóc trước khi trời sáng
từng làn sương lạnh buốt
choàng vào đêm rồi vỗ về đêm
khi tôi bước lên con thuyền rời bến
đèn phố chảy xuống sông ướt nhèm.

MT

Những cái tên nghe chẳng thơ đâu

Truyện làng văn nghệ Trackbacks (0) Bản in góp ý (60)   


Những cái tên nghe chẳng thơ đâu

Những Bến Bính, Xi Măng, Cầu Rào, Cầu Đất, Lạc Viên,... Những cái tên nghe chẳng thơ đâu, nhưng với ta vô cùng oanh liệt... Những ai đã sống và từng gắn bó với Hải Phòng đều nhớ đến những ca từ thân thương trong bài hát "Thành phố Hoa phượng đỏ" nhạc Lương Vĩnh, lời thơ Hải Như. CB xin giới thiệu về "Những cái tên nghe chẳng thơ đâu" trong câu hát trên...

BẾN BÍNH

Tên gọi Bến Bính từng xuất hiện trong bài hát "Thành phố Hoa phượng đỏ", nhạc Lương Vĩnh, lời thơ Hải Như: "Những Bến Bính, Xi Măng, Cầu Rào, Cầu Đất, Lạc Viên...". Bến Bính cũng là địa danh được gợi đến trong tác phẩm văn học nổi tiếng của nhà văn gốc Hải Phòng- nhà văn Nguyên Hồng (Tiểu thuyết "Bỉ vỏ"). Nói đến phố Bến Bính, điều đầu tiên mà tất cả những người sống lâu năm ở Hải Phòng nhớ đến, chính là bến phà Bính. Bến phà dài 160m, rộng 8m, thuộc địa bàn xã Gia Viên cũ. Lúc đầu, người ta gọi là bến đò Bính vì là bến đò ngang của người xã Bích Động, huyện Thuỷ Nguyên ở tả ngạn sông Cấm. Khi thành nhượng địa của Pháp, người ta gọi Bến Bính là bến Tự Do, với nghĩa bến công cộng, tàu nào cũng có thể đến xin đậu để sửa chữa. Bến phà Bính là bến lớn, sầm uất vào bậc nhất suốt khu vực Hải Phòng, Cát Bà, Hòn Gai, Cửa Ông, Dân Tiến, Mũi Ngọc, Phả Lại, Bắc Giang..., thường xuyên có 2-3 phà lớn chạy luân phiên chở khách và các phương tiện vận tải qua phà Bính trên sông Cấm sang huyện Thuỷ Nguyên, hoặc qua phà Rừng sang tỉnh Quảng Ninh.
Cho đến nay, phà Bính vẫn còn giữ chức năng chuyên chở hành khách và phương tiện vận tải sang Thuỷ Nguyên, song không còn là đầu mối giao thông duy nhất sang Thuỷ Nguyên và Quảng Ninh, bởi thành phố Hải Phòng đã hoàn thành xây dựng và chính thức đưa vào sử dụng công trình cầu Bính vào dịp kỷ niệm 50 năm Giải phóng Hải Phòng (13-5-2005), tạo điều kiện thông thương nhanh chóng và thuận lợi cho giao thông bộ. Tuy nhiên, bến phà Bính, nằm trên phố Bến Bính, một thời tấp nập, vẫn là địa danh gắn bó với lịch sử Hải Phòng và còn mãi trong tâm thức người đất Cảng

XI MĂNG

Ngày 25-12-1899, trên mảnh đất ngã ba sông Cấm và kênh đào Hạ Lý, Nhà máy Xi măng Hải Phòng- nhà máy lớn nhất Đông Dương bấy giờ, chính thức khởi công, hình thành cái nôi đầu tiên của ngành công nghiệp xi-măng Việt Nam
Ra đời và phát triển tại thành phố Hải Phòng, nơi có nhiều cơ sở công nghiệp lớn, hải cảng giao lưu quốc tế, lúc bấy giờ, nhà máy xi-măng có vị trí đặc biệt quan trọng trong cơ cấu kinh tế của chính quyền Pháp tại Việt Nam. Xi măng là loại vật liệu xây dựng mới, một chất kết dính trong xây dựng, được tìm ra vào cuối thế kỷ 19, sản xuất trước tiên tại Anh, Pháp, Đan Mạch, Mỹ... Người Pháp cũng mau chóng nhận ra sản xuất xi-măng có lợi nếu đặt những chi nhánh nhà máy ở Bắc kỳ. Nhà máy xi măng Hải Phòng là địa điểm thuận lợi nhất để xây dựng bởi nằm gần nguồn đá vôi và than đá quanh Hòn Gai, trên bờ vịnh Hạ Long, lại có cảng biển thuận tiện cho vận chuyển.
Với hơn 100 năm hoạt động, Nhà máy xi-măng Hải Phòng làm ra hàng trăm triệu tấn xi măng, hàng vạn công nhân thuộc nhiều thế hệ người lao động Hải Phòng đã làm việc, chiến đấu và hy sinh ngay trong nhà máy. Xi măng Hải Phòng là cái tên thân thuộc, gắn liền với niềm tự hào đất Cảng, cũng như nhà máy dệt Nam Định, hay đóng tàu Ba Son ở Sài Gòn. Trong hình dung về thành phố Hải Phòng thế kỷ trước, cùng với chiếc cần cẩu con hươu nơi bến cảng, là hai ống khói Nhà máy Xi măng Hải Phòng ẩn hiện phía tây bắc. Khói trắng xi măng Hải Phòng đã đi vào thơ ca, nhạc họa: "Thành phố nơi em sống, có khói trắng xi măng như tóc mẹ già, tiếng còi tầu, ấm như tiếng cha...". Không chỉ là niềm tự hào của dân đất Cảng, nhãn hiệu 'Con Rồng' của xi-măng Hải Phòng còn nổi tiếng hàng thế kỷ trước trên cả vùng Viễn Đông rộng lớn, tới tận Vla-đi-vô-xtốc (LB Nga), JAWA (In-đô-nê-xi-a), Xin-ga-po, Hoa Nam (Trung Quốc)...
Tự hào là thế! Nhưng người Hải Phòng vẫn đủ công bằng nhận thấy mười năm trở lại đây, khói trắng xi-măng gây ra ô nhiễm với nhiều khu vực của thành phố. Gió đông nam, nửa huyện Thủy Nguyên hứng bụi; gió đông bắc, nửa thành phố ngửi khói. Ngay khi trời lặng gió, cả vùng Sở Dầu cũng mờ mờ màu khói; các tán lá cây trong vùng quanh năm trắng xoá, tỷ lệ người dân sống gần khu vực nhà máy bị các bệnh liên quan đến đường hô hấp cũng nhiều hơn nơi khác... Ô nhiễm của nhà máy đã trên mức báo động. Người dân Hải Phòng quyết tâm đề nghị cơ quan chức năng mau chóng di chuyển nhà máy ra khỏi thành phố.
10 giờ sáng ngày 24-1-2006, Công ty Xi măng Hải Phòng chính thức tắt hệ thống lò nung! Sự kiện lịch sử với nhà máy thực sự là niềm vui, nhưng cũng gây cho 1.824 công nhân nhà máy cảm xúc khó tả, nhất là với những công nhân gắn bó với nhà máy hơn ba chục năm. Ngày mai, chỉ mai thôi, cảnh lao động cực nhọc sẽ hết, thay vào đó là điều hành toàn bộ thiết bị dây chuyền hiện đại, ai không thấy xốn xang, nhất là những người từng gắn bó với nhà máy này cả cuộc đời. Dây chuyền Xi măng Hải Phòng mới được xây dựng tại mỏ đá Tràng Kênh, thị trấn Minh Đức, huyện Thuỷ Nguyên với công suất 1,4 triệu tấn xi măng một năm theo phương pháp khô (lò quay) do hãng F.L.Smith (Đan Mạch) chế tạo, cung cấp. Đây là dây chuyền sản xuất xi măng hiện đại nhất Việt Nam hiện nay với công nghệ nghiền riêng biệt clanh-ke và phụ gia, giúp chủ động hoàn toàn trong việc kiểm soát mác xi măng.
Nhà máy xi măng Hải Phòng mới chính là độ cao mới mà thương hiệu xi măng 'Con Rồng' bay tới. Tuy vậy, trong ký ức người Hải Phòng, vẫn còn y nguyên, bên bờ sông Tam Bạc, hình ảnh tượng đài người công nhân xi măng, đầu ngẩng cao nhìn về phía Tây, bàn tay người thợ tựa lên chiếc xe cút kít thô sơ chất đầy bao xi măng "Con Rồng", nhãn hiệu nổi tiếng của xi măng Hải Phòng từ thời Pháp thuộc. Với tay nghề và kinh nghiệm người thợ xi măng Hải Phòng, thương hiệu này sẽ tiếp tục lừng lẫy. Cùng các nhà máy xi măng mới, hiện đại như Bút Sơn, Hoàng Mai, Tam Điệp, ngày 30-11-2005, dây chuyền lò nung Nhà máy Xi măng Hải Phòng (mới) chính thức đi vào hoạt động sản xuất mẻ clanh-ke đầu tiên. Đến nay, nhà máy sản xuất được trên 50.000 tấn clanh-ke chất lượng tốt, thay thế nhà máy cũ lạc hậu, tiếp nối sự nghiệp sản xuất xi măng mà các thế hệ cha anh đã làm trên 100 năm, để sản phẩm xi-măng Con Rồng tiếp tục tham gia vào sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước.

CẦU RÀO

Cầu Rào bắc qua sông Lạch Tray, trên đường Hải Phòng đi Đồ Sơn. Vì vị trí cầu thuộc địa phận làng Rào, tên nôm của làng An Khê, nên được gọi như vậy. Vào những năm cuối của thế kỷ XIX, đầu thế kỷ XX, Pháp làm đường Hải Phòng - Đồ Sơn, dẫn đến nơi nghỉ mát và xây pháo đài quân sự ở mỏm núi. Nhưng còn sông Rào rộng chưa bắc cầu nên cản trở đi lại, mặc dù đã có phà kéo bằng dây cáp.
Tháng 2/1907, Thống sứ Bắc Kỳ quyết định tài trợ cho Hải Phòng làm cầu Rào. Lúc đầu, cầu Rào đặt ở gần cổng khách sạn Chuyên gia hiện nay, làm bằng sắt, dài 174m. Tháng 12/ 1946, thực hiện chủ trương tiêu thổ kháng chiến, quân ta đã lột hết ván lát mặt cầu và phá một số thanh giằng ngang. Năm 1947, Pháp đã sửa lại và đặt lô cốt ở hai đầu cầu để bảo vệ. Năm 1960, ta đã sửa chữa, nhưng ngày 2-9-1969 bom Mỹ đã phá sập cầu. Ta đã phải đặt cầu phao để thay cầu cứng. Suốt thời kỳ chiến tranh, cầu bị đánh phá ác liệt. Sau hoà bình, tháng 8-1976, cầu Rào được làm lại ở vị trí hiện nay, bằng phương pháp lắp hẫng dùng bê- tông cốt thép ứng xuất trước. Ngày 28-1-1980, cầu được khánh thành. Cầu mới dài 174m, rộng 12m. Ngày 16-7-1987, cầu lại bị sập nhịp mố phía Bắc. Vì vậy phải dỡ bỏ và sau đó được làm lại kiên cố với hai làn xe như hiện nay.

CẦU ĐẤT

Phố Cầu Đất thuộc quận Ngô Quyền và Lê Chân, thuộc đất Gia Viên và An Biên cũ. Trước năm 1955, phố Cầu Đất thuộc khu Ga, lúc mới mở, gọi là phố Pôn Đu-me (Avenue Paul Doumer), lấy tên Toàn quyền Đông Dương (năm 1896-1902), sau là Bộ trưởng Tài chính rồi Tổng thống Pháp. Giai đoạn 1946-1962, phố còn gọi là đại lộ Hồ Chí Minh, Trần Hưng Đạo. Năm 1963, tên phố đổi thành Cầu Đất và được giữ đến ngày nay
Cầu Đất là tên gọi khá đặc biệt bởi không lấy tên gọi một danh nhân, nhân vật lịch sử nào; nó có lai lịch riêng. Trước đây, giữa hai xã An Biên và Gia Viên có con lạch nhỏ Liêm Khê, vốn là nhánh phụ của sông Tam Bạc đổ vào sông Cấm. Lạch Liêm Khê là tiền thân của kênh Bôn-nan đào năm 1885. Trên cơ sở lạch Liêm Khê, Bôn-nan cho đào kênh vành đai dài 3km, rộng 74m. Bắc qua lạch, ở khu vực Quán hoa ngày nay, là cây cầu tre nhỏ, trên mặt đắp đất, thường gọi là cầu Đất. Tên phố sau này có nguồn gốc từ đó. Như vậy, cầu Đất trong sử liệu không trùng với vị trí cây cầu nằm trên phố Cầu Đất hiện nay, được dùng làm đường gom tránh tàu đi qua phố Cầu Đất vào ga, từng nhiều lần được sửa chữa, nâng cấp từ bằng gỗ, sang bê-tông.
Thời Pháp thuộc, Cầu Đất là phố buôn bán và có nhiều nghề thủ công. Phố Cầu Đất từng nhiều lần bị máy bay Mỹ bắn phá, điển hình là trận không kích hồi 22 giờ 10 ngày 26-12-1972. Sau ngày hoà bình lập lại, phố được cải tạo nhiều, năm 1980, được trải bê-tông nhựa, đặt đèn thuỷ ngân cao áp. Phố có nhiều cơ sở cách mạng như hiệu Trần Mỹ Lâu (trước cửa rạp Công Nhân hiện nay) do Hoàng Độc tổ chức, là nơi liên lạc quốc tế của Đảng Cộng sản những năm 1929-1931; nhà số 8 ngõ Quảng Lạc - trụ sở Ban Tài chính trung ương, do Trần Văn Lan phụ trách. Phố hiện có trụ sở của các cơ quan: Công ty phát hành sách (số 75); Cửa hành kinh doanh tổng hợp Cầu Đất (số 60), UBND phường Cầu Đất (số 120). Ngày nay, Cầu Đất vẫn là trung tâm buôn bán lớn của thành phố, với rất nhiều cửa hàng buôn bán vàng bạc đá quý, kính mắt, quần áo thời trang... Nằm trên trục trung tâm, lại dẫn ra cửa ô phía Bắc và khu du lịch Đồ Sơn, lưu lượng người và xe hàng ngày qua lại phố Cầu Đất rất đông. Nhằm giảm ách tắc giao thông, từ 2 năm gần đây, Cầu Đất chuyển thành đường một chiều, đi về phía nút giao cắt Lê Lợi- Lạch Tray- Tô Hiệu, còn gọi là ngã tư Thành Đội.

LẠC VIÊN

Nh
ắc đến địa danh Lạc Viên là mọi người nhớ đến Đình Lạc Viên, xưa thuộc làng Lạc Viên, tổng Đông Khê, phủ Kinh Môn, Hải Dương nay thuộc phường Lạc Viên, quận Ngô Quyền thành phố Hải Phòng. Cùng với những di tích khác trên địa bàn thành phố, đình Lạc Viên là một trong những điểm thờ Đức Vương Ngô Quyền trên mảnh đất vị chủ tướng lập nên nhiều chiến công lịch sử, mở kỷ nguyên độc lập dân tộc. Từ năm 1522 đến năm 1934 các triều vua đã sắc phong cho đình 44 đạo sắc thờ Đức Vương Ngô Quyền và các vị thần. Tương truyền nơi đây, Ngô Quyền đã chiêu binh mãi mã để chuẩn bị cho trận đánh lịch sử trên sông Bạch Đằng.
Đình có kiến trúc chữ Đinh gồm 5 gian tiền đường, các vì kèo kết cấu kiểu chồng rường, nghệ thuật chạm khắc trong đình chủ  yếu là chạm nổi hình rồng phượng, mây trời, hoa lá cách điệu. Các mảng chạm khắc có bố cục chặt chẽ, đường nét phóng khoáng. Mái đình lợp ngói vẩy rồng cong vút với rêu phong cổ kính. Bờ nóc đắp nổi "lưỡng long chầu nguyệt". Các đầu đao cong như cánh tay thôn nữ, trên có trang trí các con kềm, con sô. Khung đình là liên kết mộng gỗ tinh tế và đẹp mắt.
Đình Lạc Viên từ năm 1960 được sử dụng làm trường học, đến năm 1991 đình được hoàn trả để phụng thờ theo truyền thống. Đã có lúc đình Lạc Viên bị xuống cấp theo thời gian, đứng trước nguy cơ bị biến mất hoàn toàn. Nhân dân địa phương và du khách thập phương đã đóng góp công sức, tin của để khôi phục lại ngôi đình cho thêm phần bề thế, khang trang. Đình được trùng tu, giữ được kiến trúc cổ, toàn bộ đồ tế khí đều tạo dựng mới, tạc mới tượng Đức vương Ngô Quyền, Đông Hải Đại Vương Đoàn Thượng và Nam Hải Đại Vương Phạm Tử Nghi.
Các Lễ hội dân gian truyền thống tri ân Đức Vương Ngô Quyền. Các hội, lễ nổi bật như thánh hoá, khánh hạ, kỳ an, kỳ phúc... tại đình Lạc Viên được lưu truyền và gìn giữ cùng những nếp xưa, tục cũ tốt đẹp. Trong ngày hội, sân đình rộn ràng những trò chơi dân gian thu hút sự tham gia của đông đảo người dân và du khách như: đấu vật, thi võ cổ truyền, chọi gà, hát chèo, ca trù... Đình là nơi sinh hoạt văn hoá, tín ngưỡng cổ truyền, từ các hoạt động dành cho thiếu nhi đến những đêm nhạc kỷ niệm chiến thắng Bạch Đằng lịch sử đều được tổ chức long trọng tại sân đình. Năm 2009, đình Lạc Viên được xếp hạng di tích cấp quốc gia.

CB

Hai mươi mùa hoa

Tin chung Trackbacks (0) Bản in góp ý (61)   


Kỷ niệm 20 năm ngày thành lập Cung Văn hóa LĐ HN Việt Tiệp HP (17/12/1989- 17/12/2009). CLB Thơ Việt Tiệp kết hợp với NXB Hải Phòng cho ra mắt độc giả tập thơ "Hai mươi mùa hoa". CB xin trân trọng giới thiệu một chùm thơ được rút ra từ tập thơ trên.

HAI MƯƠI MÙA HOA

Phạm Ngà

NGHỊCH LÝ

Càng gần càng cách mãi xa
Cái ta đánh mất là ta kiếm tìm
Sang chiều sống tuổi hoa niên
Trót yêu dẫu chốn cửa thiền còn yêu.
Nhọc nhằn chuốc đã bấy nhiêu
Đem cho đi cả những điều đầy vơi
Đã từng phiêu bạt muôn nơi
Về nhà sợ tiếng lá rơi cuối mùa
Dửng dưng trước kẻ đón đưa
Lại chạnh lòng những thiếu thừa người ta
Vui thì heo hút cũng qua
Buồn thì giữa một rừng hoa cũng buồn
Kệ đời gió táp mưa tuôn
Ngẫm ra thân kiếp cánh chuồn trên sông
Người gần chẳng đợi chẳng mong
Lại đi thương nhớ người không của mình

Minh Trí

TRƯỚC BAN MAI

Trên trái đất còn nhiều người cô đơn
sương mù sớm mai
là nước mắt cả đêm qua họ khóc
mảnh trăng muộn như con thuyền hờn dỗi
sẽ đưa giấc mơ đi đến đâu
Nơi những mùa trăng không còn trăng nữa
nơi thiên thần cầm trên tay cầu lửa
sáng dần giấc mơ cô đơn
như lời nhắn gửi
Nơi con cú giấu nỗi buồn dưới cánh
đập chập chờn về góc đêm
nấc lên kinh dị khi gặp kẻ ác
trong giấc ngủ khuôn mặt méo mó
tiếng cú quệt vào đêm vết nhọ
Rồi giấc mơ kỳ diệu
nơi đứa bé đã sinh ra
những đứa trẻ tung lên ban mai
ông mặt trời mà chúng vừa tô vẽ
Và thế là bàn tay thơ ấu
lau sạch sương mù thế gian

Thanh Tùng

HẢI PHÒNG ƠI

Nơi ấy tôi còn nguyên tất cả
Từ vệt trời thơ thời giá lạnh
Đến viên sỏi cũ dấu chân mòn
Tôi đem khâu lại từng hoang vắng
Tôi còn lời hẹn với muôn năm
Với vai người dầu mỡ
Với bức tường của nắng
Với phố chiều ăm ắp giọng khơi xa
Ở nơi ấy còn bao bí ẩn
Với người qua một lần còn nhớ mãi
Những khoảng tối tôi bị dìm xuống đáy
Ở nơi ấy tôi còn nguyên tất cả
Tình yêu gửi trong trái tim người
Tôi trong gió và trong nắng
Sôi trong những lửa lò nung
Tôi cũng gọi tôi về, tôi biết lắm
Tôi cần cho cả mặt sông đêm
Cho tùng trái chín
Cho khoảng trời khuya bớt nhục nhằn
Tôi vẫn gọi về từng cánh cửa
Với từng bánh xe lên dốc nặng nề
Tôi vẫn gọi về đêm đêm xứ sở
Tiếng vọng vang trùng trùng cơn nhớ
Hải Phòng ơi!   

Vũ Thị Huyền

CHỢ QUÊ

Chợ quê bán thứ nhà quê
Quai thao nón thúng mà về với nhau.
Mua trầu thì nhớ buồng cau
Chõng tre với áo sồng nâu vắt rào
Bún lá chan với ốc ao
Hoa chanh ngõ trước thơm vào vườn sau.
Bán đi những thứ dãi dầu
Mua về những thứ đặc mầu nhà quê.
Mẹ còn gánh lúa trên đê
Cha còn bắt ếch đi về trong mưa
Chợ còn bán thứ ngày xưa
Ta còn lặn lội trong mơ tìm về.

Trần Quốc Minh

LẺ

Em về gõ cửa một lần
Còn tôi thảng thốt phân vân một đời
Thế rồi em đũa nên đôi
Còn tôi lận đận chiếc rơi chiếc nhầm

Hoàng Khôi

VÀO THU

Không muốn em buồn
Khi anh cất tuổi xanh vào dĩ vãng
Ngửa lòng tay thấy chiều chạng vạng
Khát khao một tiếng chim gù
Anh biết trời vào thu
Còn giông gió khoảng đời trống vắng
Mái nhà ấm êm trong tĩnh lặng
Ngập niềm vui thanh cao.
Anh trốn tìm ngọn gió lao xao
Em bình dị lẫn vào màu quả chín
Hiển hiện trong tầm tay anh vịn
Những câu thơ ươm sắc thu vàng.

Thúy Ngoan

ANH CỨ BẢO TÌNH YÊU LÀ NGỌN LỬA

Em trốn vào quá khứ
Như con tằm ủ kén làm tơ
Anh đánh thức!
Em khát khao làm vợ
Được yêu thương, được âu yếm cậy nhờ
Anh không nói nhưng mà em biết
Trong ánh mắt so đo hơn thiệt vơi đầy
Con dại, mẹ già như chuối chín cây
Con đò nhỏ dằm đầy nước mắt
Không dắm mất thì làm sao có được
Không đứt tay biết máu chảy thế nào?
Anh cứ bảo tình yêu là ngọn lửa
Không một lần dám đốt cháy thành tro

Phạm Xuân Trường

CHIA TAY CÁT BÀ

Mai chia tay nhé Cát Bà
Biển thương yêu sóng vỡ oà dưới chân
Hàng dừa non đứng tần ngần
Núi vươn tay níu người thân đừng về!
Những mâm xôi gấc bên hè
Tàn hoa kim phượng đỏ hoe mắt buồn
Trong ngần như những giọt sương
Hoa trứng cá cải trắng đường chờ ai
Chân kè con sóng thở dài
Ta ngồi uống cạn ban mai bên thềm
Một lần đến dễ gì quên
Ở đây giọt nắng cũng mềm như hoa...
Những người con lấy chồng xa
Có ai thương nhớ Cát Bà như tôi

Nguyễn Cường

QUÊ

Quê người
Đồng đất xa xôi
Tôi thường lạc lối mỗi khi về
Hàng tre giếng nước bờ đê
Trong giấc mơ sao giống nhau đến thế
Nỗi niềm quê bình dị
Nghe tiếng "Làng tôi" mà thấy thân thương
Mùi bùn đất sục sâu trong tâm tưởng
Quê hương ơi máu thịt mẹ cha
Đôi lúc giật mình thảng thốt
Một đời cách xa
Có điều gì khác lạ
Con người nơi phố phường sỏi đá
Mà nỗi lòng
Bùn đất cỏ hoa
Quê hương ơi mãi mãi cách xa
Ta mượn quê người gọi một tiếng "Quê ta"
Cho lòng đừng lạc lối
Mỗi khi về.

Phạm Thúy Nga

CÁNH CỬA

Mẹ thường nói:
cánh cửa này khép lại
sẽ đến một ngày
cánh cửa khác mở ra.
Nhưng một đời
mẹ chồng chất âu lo
cha đi
mùa con muộn giấc
cánh cửa lòng mẹ khép chặt
đã bao giờ mở ra?
Con ba mươi...
như một bản sao
đêm...
nhỡ về câu chuyện cổ
con gọi mãi
Vừng ơi! mở! mở!
mà vách cứ vọng bề
lặng câm...

Nguyễn Lâm Cẩn

THỊ GIÁC

Hòn đá
Tự đằng xa tôi ngắm
- Ông già nhân hậu?
- Nhà hiền triết?
- Một thi nhân...?
Tới gần
Hòn đá cõi âm!
Đá lừa tôi
Hay mắt tôi nhầm?
Hoài nghi thay
Cái vật tôi cầm
Viên ngọc quý hay chỉ là hòn sỏi?
Kẻ tín điều lời nói
Nghiền sách thành kinh kê nuôi thân
Bùn đen ngấm mãi bàn chân
Lật tung đất
Cái tôi nhìn là cái tôi không thấy!
Hòn đá kia như bàn tay tôi vậy
Thực hay hư
Thị giác cả thôi mà!

Trịnh Anh Đạt

RAU MÁ 

Mới nghe em chớ vội cười
Cây rau má "sâm" của người xứ Thanh
Miền quê bão lụt nắng hanh
Vươn lên để sống chỉ nhành má thôi
Cứ xanh rười rượi với đời
Cứ chia sẻ tất cho người cháo rau
Dù ai lận đận nơi đâu
Dù ai sống giữa nhà lầu xe hơi
Riêng vị rau má em ơi
Vẫn còn ngai ngái trong người xứ Thanh
Bao giờ em về quê anh
Mà xem dấu vết kinh thành xa xưa
Vĩ nhân và các đời vua
Cũng từ rau má ốc cua nên người
Mới nghe em chớ vội cười
Cây rau má "sâm" của người xứ Thanh

Đinh Thường

ĐÌNH VŨ NHƯ MỘT CON TÀU

Hàng vạn năm dầm mình trong biển mặn
Tôi luyện mình trong bão táp phong ba
Can trường trước đòn thù bom đạn
Thành con tàu ngạo nghễ hướng khơi xa.
Lung linh một vùng điện sáng sao sa
Bến cảng, nhà máy, công trường rộn rã
Đường mới thênh thang hối hả xe qua
Rộng dài trẻ trung một vùng biên ải.
Thức dậy rồi những năm dài bờ sông, bãi sú
Con cáy, con còng thành hoài niệm nắng mưa
Đời cha ông nghèo chắt chiu lam lũ
Dành trọn cho con cả lịch sử ngàn xưa.
Những ngày này Đình Vũ đang sung sức
Như con tàu rẽ sóng khơi xa
Cả Thành phố vững vàng làm động lực
Bến bờ nào gian khó cũng tới nơi.
Đường ra biển lớn ắt va sóng gió
Muốn vượt trùng phải chuẩn bị công phu
Người thuyền trưởng phải vững tay chèo lái
Thuỷ thủ đoàn chung hướng mỗi bước đi.
Anh bên em khát khao Đình Vũ
Vươn ra Biển Đông xây dựng quê nhà
Ta yêu nhau nên cùng tự nhủ
Chung sức chung lòng vượt bến bờ xa.

TVT

NGUYÊN QUÁN

Thơ Trackbacks (0) Bản in góp ý (72)   


Nguyên quán - Chùm thơ Minh Trí


NGUYÊN QUÁN

Lúc đi vịn gió bến sông
bao năm giọng hót còn mong gọi mùa
bà thường nhang huệ lên chùa,
ông thường phơi thuốc nắng trưa nhuộm vàng 

Chị tìm một chuyến đò ngang
qua thời trái ngọt rụng sang quê chồng
mất đã mất, còn còn không
đêm trăng buồm vắng thầm trông thủy triều

Cỏ quê xanh thuở mến yêu
bay về nguyên quán cánh diều đồng hương.

ĐƯỜNG ĐÊM

Đường đêm lạnh buốt tình ơi
dường như nỗi nhớ chơi vơi vào mùa
câu thơ khuya khoắt như đùa
để cho ai đó bỏ bùa theo ai 

Để cho câu hát miệt mài
nghẹn cơn gió bấc thở dài vào đêm
run trong từng cặp môi mềm
là bao cái rét trở lên không thừa

Những nụ hoa thắp trong mưa
xin là bình gốm sang mùa đợi em.


BẾN MÙA ĐÔNG

Chút tình gửi lại mùa đông
lạnh hờn cơn gió mà không nhớ về
con thuyền chuyên chở say mê
trôi trong lờ lững dòng quê vơi đầy

Thương thì xem lòng bàn tay
bao nhiêu đường bấy nhiêu ngày đợi mong
mắt chiều mòn mỏi bến Đông
mà ngọn gió bấc bên sông réo gào

Thả một chiếc lá ước ao
trăng ngàn thương nhớ dạt vào chốn xưa
một mình đứng trước cơn mưa
bến Đông nổi sóng ai vừa đợi ai.

MT

Gặp gỡ Côn Sơn

Tin chung Trackbacks (0) Bản in góp ý (66)   


GẶP GỠ CÔN SƠN


Gặp gỡ mùa thu - Một sinh hoạt nghề thường niên do Hội Kiến trúc sư Việt Nam tổ chức.
Cuộc gặp năm nay của giới Kiến trúc sư Việt Nam diễn ra tại Côn Sơn thuộc xã Cộng Hoà, huyện Chí Linh, tỉnh Hải Dương. Một địa danh không những nổi tiếng về phong cảnh thiên nhiên mà còn gắn liền với cuộc đời các danh tài của đất nước như Nguyễn Trãi, Chu Văn An. Chính vì vậy Côn Sơn đã và đang được đầu tư tu tạo và gìn giữ để trở thành Khu di tích- lịch sử- văn hoá và du lịch ngày một hấp dẫn. Nằm giữa hai dãy núi Phượng Hoàng - Kỳ Lân, gồm có núi non, chùa, tháp, rừng thông, khe suối, ngay từ thời Trần, Côn Sơn là một trong ba trung tâm của thiền phái Trúc Lâm (Côn Sơn- Yên Tử- Quỳnh Lâm).

Ngày nay, Côn Sơn còn lưu giữ được những dấu tích văn hoá thời Trần và các giai đoạn lịch sử kế tiếp. Tiêu biểu là: Chùa Côn Sơn có tên chữ là Thiên Tư Phúc tự, hay còn gọi là chùa Hun, toạ lạc ở ngay dưới chân núi Côn Sơn, có từ trước thời Trần. Vào đời Lê, chùa được trùng tu và mở rộng rất nguy nga đồ sộ. Trải qua biến thiên về lịch sử và thời gian, chùa Côn Sơn ngày nay chỉ còn là một ngôi chùa nhỏ ẩn mình dưới tán lá xanh của các cây cổ thụ. Chùa được kiến trúc theo kiểu chữ công gồm Tiền đường, Thiêu hương, Thượng điện. Thượng điện thờ Phật, có những tượng Phật từ thời Lê cao 3m. Phía sau chùa là nhà Tổ, có tượng Trúc Lâm tam tổ (Trần Nhân Tông- Pháp Loa- Huyền Quang), sân chùa có cây đại 600 tuổi, có 4 nhà bia; Giếng Ngọc nằm ở sườn núi Kỳ Lân, bên phải là lối lên Bàn Cờ Tiên, phía dưới chân Ðăng Minh Bảo Tháp. Tương truyền đây là giếng nước do Thiền sư Huyền Quang được thần linh báo mộng ban cho chùa nguồn nước quí. Nước giếng trong vắt, xanh mát quanh năm, uống vào thấy khoan khoái dễ chịu, do đó có tên là Giếng Ngọc và nước ở giếng được các sư dùng làm nước cúng lễ của chùa; Từ chùa Côn Sơn leo khoảng 600 bậc đá là đến đỉnh núi Côn Sơn cao 200m. Ðỉnh Côn Sơn là một khu đất bằng phẳng, tại đây có một phiến đá khá rộng, tục gọi là Bàn Cờ Tiên. Hiện nay Bàn Cờ Tiên có dựng nhà bia theo kiểu Vọng Lâu đình, hai tầng cổ các tám mái. Ðứng từ đây, du khách có thể nhìn bao quát cả một vùng rộng lớn.

Chúng tôi làm lễ dâng hương Nguyễn Trãi. Đền thờ Nguyễn Trãi là công trình trọng điểm nằm trong quần thể khu di tích Côn Sơn- Kiếp Bạc, khuôn viên đất rộng gần 10.000m2, tại chân núi Ngũ Nhạc, khu vực Thanh Hư Động, kiến trúc theo truyền thống rất độc đáo. Mỗi chúng ta khi đến dâng lễ, thắp hương tưởng nhớ Nguyễn Trãi, đứng trước ông, trong giây phút ta tĩnh tâm, suy  ngẫm, soi lại và tự biết mình. Người đến thắp hương tưởng nhớ Nguyễn Trãi xong, tâm sẽ sáng thêm.

Chúng tôi thăm đền Chu Văn An được thiết kế, xây dựng mang đậm nét truyền thống dân tộc. Ngôi đền chính được chồng diêm tám mái thể hiện sự tôn vinh đẳng cấp và tầm vóc của danh nhân theo tập quán người Việt. Ngay cổng có hàng chữ "Vạn thế sư biểu" để thể hiện tấm lòng của bao thế hệ người Việt với Chu Văn An. Nhà gỗ lim lợp ngói liệt, bậc thềm đá, đồ thờ sơn son thiếp vàng... trông thật khiêm nhường, ấm áp mà thành kính, trang trọng. Nhà bia cũ và cây trạng nguyên bên cổng đang nở hoa đỏ mang ý nghĩa tôn vinh sự học và đạo làm thầy. Tất cả hòa vào quần thể di tích tạo cảm giác gần gũi ấm áp cho mỗi người hành hương.

Chúng tôi đến thăm làng nông nghiệp nông thôn Kỳ Đặc. Xem triển lãm các đồ án đoạt giải cuộc thi KIẾN TRÚC NHÀ Ở NÔNG THÔN trưng bày tại làng. Một đêm giao lưu các Kiến trúc sư toàn quốc với Sở Xây dựng và Hội Kiến trúc sư Hải Dương tại Nhà hàng Việt Tiên Sơn ấm tình đồng nghiệp.

Một hội thảo khoa học với chủ đề: "Kiến trúc nông thôn Việt Nam- hiện trạng và đề xuất phát triển". Sau đó hội nghị Ban chấp hành Hội KTSVN lần thứ 7 họp. Kết thúc chương trình chúng tôi đến với Kiếp Bạc cách Côn Sơn 5km, thuộc xã Hưng Đạo, huyện Chí Linh. Kiếp Bạc là tên ghép của hai làng Vạn Yên (làng Kiếp) và Dược Sơn (làng Bạc). Nơi đây là thung lũng trù phú, xung quanh có dãy núi Rồng bao bọc tạo cho Kiếp Bạc có một vẻ đẹp vừa kín đáo, vừa thơ mộng. Vào thế kỷ 13, đây là nơi đóng quân và là phủ đệ của Trần Hưng Ðạo, người anh hùng dân tộc, người chỉ huy quân sự tối cao trong cuộc kháng chiến chống quân xâm lược Nguyên Mông.

Gặp gỡ mùa thu tại Côn Sơn khi gió đông đã về. Âu cũng là dịp để các kiến trúc sư gặp nhau nghĩ về một thời dựng nước và giữ nước của cha ông. Ngẫm ngợi những hưng vong và khúc bi tráng lịch sử. Một hội thảo về nhà ở nông thôn Việt Nam nhằm gìn giữ bản sắc dân tộc cũng như những ứng dụng thực tế trong điều kiện sống hiện nay. Cảm nhận Côn Sơn, bao xao xuyến sang mùa.

CB

Thơ về người lao động đất Cảng

Thơ Trackbacks (0) Bản in góp ý (54)   

Cung Văn hoá LĐHN Việt Tiệp Hải Phòng vừa trao giải cuộc thi sáng tác thơ về "Người lao động thành phố Cảng" nhân
kỷ niệm
20 năm ngày thành lập (17/12/1989- 17/12/2009). Cát Biển trân trọng giới thiệu các bài thơ được giải trong cuộc thi trên
.

Thơ về người lao động đất Cảng


Trần Nguyên Phúc

NGƯỜI TRỒNG PHI LAO CỬA BIỂN
(Giải A)

Những cây phi lao mẹ trồng
Bao nhiêu năm mới tròn bắp vế
Đành hanh con sóng bể
Cọ mòn những lắt lay
Tơ trời níu xuống cát đây
Em - giọt máu trời cho riêng mẹ
Dãi dầu cát bể
Làm ngọt phi lao lao vút lên trời
Nắng gió bạc mặt người
Gió bấc gió nồm đổi hướng
Xin cho, bán mua, chuyển nhượng
Vòng quay chóng mặt hoàng hôn
Chút trinh nguyên thấm đỏ cát hoang buồn
Định giá một thời thơ dại
Những chiếc lá như que đan con gái
Chiếc áo Nàng Bân mặc suốt thời đau
Vườn xưa nức nở hương cau
Ở đây cỏ lông chông nhẩy chồm chồm trên mặt cát
Cây phi lao vặn mình hát
Chân đi, nước đi, phù du đi
Chỉ có cát và em đứng lại
Hoa phi lao rắc trên triền bãi
Rưng rức phấn nâu hoà quyện thuỷ triều
Em lớn lên khao khát một điều
Vun trồng phi lao hạnh phúc
Nơi cửa bể tận cùng khó nhọc
Ngọn phi lao nâng chót vót cánh buồm.


Đinh Thường

KỶ NIỆM ĐÊM TUẦN TRA
(Giải A)

Thuyền trăng trôi ngược về phía bãi
Gió đổi phiên ru bụi tre gầy
Con chim giấu tiếng hót vào đêm
không kín nổi tiếng kêu lích chích.
Nhà tình nghĩa
cửa khép hờ
Xưa đèn dầu giờ đèn điện
suốt bốn mươi năm vẫn sáng
Mẹ đợi người con trai duy nhất
lúc lên đường quả quyết ngày trở lại
Đợi cả chúng tôi lặng lẽ bước đi tuần.
Gió độc thoại thông thênh qua từng khe cửa
Cất tiếng thở dài mẹ trở mình nghiêng về hiện tại:
Sao bữa nay đi tuần muộn vậy các con?
Nước còn nóng uống đi cho đỡ lạnh ...
Lũ chúng tôi toàn nhng thằng lộc ngộc
có duyên cùng trở thành con mẹ yêu thương.
Và: Thưa mẹ chúng con đã thay anh trở về từ buổi ấy
Nâng giấc cho Người bớt trống trải cô đơn.
Gió lĩnh xướng ngân nga miền ký ức
Mắt mẹ hiền lấp lánh sao vui.
Nhìn tóc mẹ đổ thành suối bạc
Đêm biên thuỳ nghèn nghẹn đắng bờ môi.


Hà Thúc Quả

ĐÌNH VŨ
(Giải B)

Cầu cảng
Những con tàu tấp nập vào ra
Vươn dài cánh tay xa
Hàng lỏng dần vào...
Đình Vũ!
Bao cuộn cát hút dài từ cửa lạch
Dựng lên những cồn vui
Nỗi buồn hóa tầng sâu
Nhấn chìm lớp lớp đầm lầy...
Đình Vũ!
Bồn chứa
Sừng sững Khu công nghiệp Hóa dầu
(Còn đâu ngập trời bãi sú)
Cửa ngõ ngã ba vàng
Địa thế trời cho...
Đình Vũ!
Anh - Người lính năm xưa
Bùng lên ước mơ
Dám bạt gió ngổn ngang
Thổi căng giấc mơ xếp thành lớp lang hiện thực
Tầm nhìn cao: Anh - Con người không xưa cũ
Tấm lòng vàng trời cho...
Đình Vũ!

Nga Anh Hoàng

MÀU XANH ÁO THỢ
(Giải B)

Mồ hôi
vôi vữa gạch hồng
Bàn tay
vươn dãy nhà tầng lên cao
Ngang tầm với cả trăng sao
Mầu xanh áo thợ
lẫn vào gió mây
Trèo lên
giàn giáo sớm nay
Kéo nhà ngói mới
lên đây với trời
òn ai đẹp ở trên đời
Xây nhà cao
để cho người lên cao.


Hoàng Thanh Tâm


(Giải B)

Ông lão kéo vó bè
Tóc nâu như mây trắng
Bóng in dài trong nắng
Chạm cả vào hoàng hôn
Những con chép, con măng
Quẫy tung trong cánh vó
Dưới ánh chiều rực đỏ
Như dính đầy mật ong
Sừng sững nơi cửa sông
Vó xoè tung chặn sóng
Bóng ông cao lồng lộng
Kéo vỡ bầu trời sao


Nguyễn Cường

NGƯỜi TRỒNG HOA
(Giải C)

Người trồng hoa
Cả đời làm thuê cho chủ
Bẻ lá, tỉa cành, ghép mầm, lai tạo
Trăm loài hoa khoe sắc hương
Trăm loài hoa
Sớm tôi đong đưa
Sinh ra và tranh nhau làm vừa lòng chủ
Đau lòng rễ vùi sâu trong đất
Người thợ lúc về già
Đi qua cánh đồng cỏ hoang đua nở
Bàng hoàng bỡ ngỡ
Hoa dại hồn nhiên mang hơi thở đất trời


Nguyễn Thị Loan

CÔ GIÁO CỦA EM
(Giải C)

Em về thăm lại trường xưa
Gặp lại cô biết cô chưa lấy chồng
Đò đầy bao chuyến qua sông
Bọn em có đứa đi không thấy về
Đôi chân trải khắp miền quê
Cô như cò vạc đi về sớm trưa
Mái đầu nhuộm đủ nắng mưa
Bên cô vẫn thấy ngày xưa dại khờ
Đời em là một bài thơ
Nửa đời thì khuyết, nửa chờ thì không
Ngôi trường ngày ấy rêu phong
Đong đầy kỷ niệm tuổi hồng ngày xưa
Sân trường mưa... vẫn còn mưa
Bài Kiều cô giảng, gió đưa xạc xào
Vui buồn kỷ niệm lao xao
Bên cô vẫn thấy ngày nào còn đây.


Nguyễn Khắc Dũng

ÁO MÀU XANH
(Giải C)

Thu lành đến
Heo may về se gió
Thành phố vương
Trong ánh đèn mờ tỏ
Tà áo xanh lầm lũi
Tiếng chổi đưa vỡ cả trời đêm
Cho ngày mai
Đường phố sạch trơn
Bao vất vả
Mưa ngâu- ướt nhẹ
Đêm mùa thu heo may lặng lẽ
Ánh đèn mờ
Phố trong mưa im lìm
Em
Người công nhân quét đường đêm
Dọn rác rưởi
Của người đời vương vãi
Để sáng mùa thu
Sạch trọn nghĩa mùa thu.


Nguyễn Quang Tiếp

TÂM SỰ NGƯỜI THỢ CÀY
(Giải C)

Vẫn là tấc đất tấc vàng
Cơ duyên cũng lắm gian nan cũng nhiều
Những là nước lọ cơm niêu
Ngổn ngang lắm cõi lệch xiêu cuộc đời
Từ ngày đất cát lên ngôi
Màn che dự án "Cậu Trời" vung tay
Mà thương mấy bác thợ cày
Đất quê chật chội xở xoay khôn lường
Giữa thời cơ chế thị trường
Ngác ngơ chuyển đổi nửa đường chỏng chơ
Cha sinh, mẹ đẻ đến giờ
Mòn tay cày cuốc be bờ sớm hôm
Cái khó nào? Ló cái khôn?
Cuộc đời những rạ cùng rơm rối bời
Chăn nuôi cụt vốn, trốn lời
Loay hoay lạc giữa chợ trời bán mua
Hỡi giời! Hỡi đất! Thấu chưa!
Có nghe tiếng cuốc- tiếng bừa thở than!

.

Món ngon đất Cảng

Tin chung Trackbacks (0) Bản in góp ý (88)   


MÓN NGON ĐẤT CẢNG

                       

nh đa cua Hải Phòng       

Bánh đa cua là món ăn dân dã, gắn bó từ rất lâu với người dân Hải Phòng. Nó là thứ quà sáng, là thức ăn tối của người dân nơi đây. Nguyên liệu chế biến là sản phẩm của vùng quê như cua đồng, lá lốt, rau muống... Nhưng chính những nguyên liệu có từ đất, có từ đồng ruộng ấy qua bàn tay khéo léo, tỉ mỉ của người bán hàng trở thành món ăn đặc sản.
Nước dùng phải thật trong, đó là nước xương và nước cua đồng đã gạt hết bọt. Nổi phía trên nước dùng trong suốt là gạch cua nâu hồng, xôm xốp, miếng chả lá lốt xanh đậm, những mảy hành khô vàng rộm, giòn tan, những cọng rau, hành tươi xanh nõn.
Thứ đến và cũng rất đặc biệt là sợi bánh đa nâu sậm, loại bánh được tráng khá kỳ công, sợi bánh mỏng tang, mềm và dai. Để làm được loại bánh như thế những người làng Dư Hàng Kênh - nơi cung cấp bánh cho toàn Hải Phòng và đi các nơi khác của cả nước phải nắm rất rõ và giữ bí quyết, kỹ thuật ngâm gạo, chế nước khi xay, pha bột và điều chỉnh lửa lò lúc tráng bánh...
Một bát bánh đa cua ngon, hấp dẫn phải hội tụ đủ ngũ màu: màu gạch cua nâu hồng; màu bánh đa nâu sậm; màu xanh mướt của lá lốt, rau muống, hành lá, chanh; màu đỏ tươi nơi trái ớt và vàng rộm của hành khô. Màu sắc bắt mắt kết hợp với hương vị thơm ngon, béo ngậy chắc chắn sẽ níu chân thực khách dù chỉ một lần được thưởng thức, sẽ là hương vị nhớ về của những người đi xa.
Trong một ca khúc về Hải Phòng nhạc sĩ Trần Tiến đã viết: "Người Hải Phòng thật thà như bánh đa cua..."- thứ bánh mộc mạc, dân dã được dùng để chỉ một phẩm chất của người dân nơi đây, điều đó đủ cho thấy với người dân đất Cảng, bánh đa cua thân thiết như thế nào
.

Sam biển

Đến Hải Phòng, muốn tìm được một món ăn mang đặc trưng hương vị biển vừa ngon, vừa độc đáo, có nguồn gốc tự nhiên, luôn đảm bảo độ tươi sống và chứa đựng một giai thoại, thì Sam biển là một sự lựa chọn.
Từ nguyên liệu chính là thịt sam biển, người Hải Phòng có thể chế biến ra được rất nhiều món ăn khác nhau: tiết canh sam, gỏi sam, chân sam xào chua ngọt, sam xào xả ớt, trứng sam chiên giòn, trứng sam xào lá nốt, sam hấp, sam bao bột rán, sụn sam nướng, sam xào miến...
Các món ăn từ thịt sam biển thơm ngon, nhưng để có được những món ăn độc đáo ấy, thì khâu làm thịt sam và chế biến là cả một quy trình công phu. Việc đầu tiên cần nói đến là quá trình đánh bắt sam biển. Để bắt được sam biển, ngư dân phải tính con nước và định ngày ra khơi. Sam thường đi theo đôi (một đực, một cái), nên đã tìm thấy sam là bắt được cả hai con một lúc. Nếu chỉ bắt được một con, thì ngư dân sẽ nhanh chóng thả ngay xuống biển, vì đó là con so. Sam rất dễ nhầm với so, mà ăn so hay bị đau bụng.  Những người đi biển lâu năm dễ dàng phân biệt được hai loại này. Sam biển là loại hải sản chỉ sống trong tự nhiên, chưa nuôi trồng được, khi đánh bắt lên bờ chỉ sống được không quá ba ngày.
Ở Hải Phòng chỉ có duy nhất một con phố có đông nhà hàng chế biến sam biển ngon và uy tín là phố Chu Văn An. Người Hải Phòng vẫn quen gọi là Phố Sam. Bởi dãy phố này tập trung nhiều nhà hàng chế biến sam biển. Khi chế biến sam phải có đủ ba dụng cụ là dao nhọn, dao chặt và kéo để lấy phần chân, lọc thịt, bỏ ruột và gan (vì bộ phận này chứa nhiều tác nhân gây đau bụng).
Sam là món ăn thuộc loại hàn tính, nên phải ăn cùng những gia vị nóng như: giềng, sả, ớt, lá lốt... cùng với tài nghệ khéo léo và kinh nghiệm lâu năm của người đầu bếp, chúng ta sẽ có những món ăn đặc sắc chế biến từ sam biển với những hương vị rất riêng. Thịt sam ngon, vỏ sam cũng rất hữu dụng, có thể khắc hàn, cảm lạnh và kỵ sài cho người và vật nuôi. Từ vỏ sam, có thể dùng để chế tác ra đồ lưu niệm có độ tinh xảo, hấp dẫn khách du lịch khi đến Hải Phòng.

Nộm giá Cát Hải

Ai đã từng đi thăm đảo Cát Bà, được nhà tàu cho ghé vào Bến Gót, sẽ được nghe những tiếng rao rộn ràng: "Giá đây, giá đây! Ai nộm giá đây!". Hai mảnh vỏ xanh xanh, rộng như ngón tay ở giữa có chút ruột tanh tanh nhưng ngọt lừ, thêm cọng chân khoằn khoèo như cái giá đỗ, người ta gọi là con giá bể.
Giá bể có rất nhiều trong các bãi cát bùn ven biển Hải Phòng, người Hải Phòng đã biến nó thành những món ăn độc đáo. Đầu tiên, con giá được rửa sạch, vặt chân và bỏ cái đầu cưng cứng, đầy cát. Mình giá được cho vào chõ đồ như đồ xôi, không luộc. Vừa chín tới, đổ giá ra, tãi mỏng cho nguội rồi gỡ lấy phần thịt. Chân giá làm sạch, nhúng nước sôi nhưng đừng kỹ quá kẻo dai, xong vớt ra để ráo. Phần chính của món nộm đã xong, còn ba thứ nữa sẽ hoàn tất: riềng già giã nhuyễn, vừng rang xát vỏ và lá chanh thái chỉ. Món nộm hình thành với năm thành phần chính ấy. Nhai trong miệng, nộm giá cứ sần sật. Giòn, ngọt, bùi, cay- đủ cả. Món này khá tốn... rượu. Và tùy khẩu vị, số lượng giá, người ta thêm vào hoa chuối, thịt ba chỉ, muối bột, v.v...
Món nộm xem ra có vẻ dành cho đàn ông lai rai, thì trái lại, từ con giá bể, người ta "chế tạo" ra một thứ khác rất hợp cho các bà, các chị, đó là giá xào, món này bán la liệt ở các chợ, thậm chí ngay giữa phố Cầu Đất sang nhất Hải Phòng. Giá cũng được tách rời chân tay, thân được đem xào với bột, riềng, tỏi, rồi xúc ra bát, rắc phần chân đã nhúng nước sôi, nêm tương ớt, rau thơm với nhiều lá chanh. Món này các bà các cô rất thích. Ăn giòn giòn, ngọt ngọt, phải nhằn lấy ruột, nhả vỏ, đúng là một món quà đầy ý nghĩa ở đất Cảng Hải Phòng
.

CB

Chùm thơ mùa đông

Thơ Trackbacks (0) Bản in góp ý (68)   


Chùm thơ mùa đông của Minh Trí

THÁNG MƯỜI

Chớm đông thả sợi rét dài
khâu vào áo mỏng một vài châm kim

Chớm đông thả bước lặng im
nhặt trên lá rụng thơ tình đánh rơi

Lời thương cài khẽ lên người
mà vơi giá rét tháng Mười bâng quơ.

THÁNG MƯỜI MỘT

Kìa đôi cánh trắng ngang chiều
đầm lưng chừng lá bao nhiêu sen tàn 

Kìa nghe tiếng rụng vườn hoang
dịu dàng gương mặt trái xoan xóm hồng

Rồi đi về đón mùa đông
tháng Mười Một bước ra đồng tìm ai

Rồi đi dọc bến sông dài
gọi tên nỗi nhớ ngày mai ơ hờ

Kìa đôi cánh trắng sang bờ
tháng Mười Một đợi giấc mơ trăng ngà.

THÁNG CHẠP

Một năm ngai ngái trôi qua
cỏ gai hết khóc, cỏ hoa hết buồn

Tháng Chạp như một cánh buồm
nỗi niềm năm cũ xuôi nguồn bình yên 

Quên đi ánh mắt muộn phiền
quên đi than thở triền miên thuở nào

Khu vườn còn một vì sao
thương con đom đóm lọt vào giấc mơ

Thương bao cơn gió bơ phờ
cuối ngày nằm xuống cuộc cờ dở dang

Nghe đâu đây một giọng đàn
tiếng gọi năm mới chứa chan ngoài vườn.

MT

Mùa đông này về với Hà Giang

Tin chung Trackbacks (0) Bản in góp ý (68)   


MÙA ĐÔNG NÀY VỀ VỚI HÀ GIANG


Mùa đông này từ đất Cảng Hải Phòng, chúng tôi về với Hà Giang. Hà Giang là một tỉnh thuộc vùng Đông Bắc Việt Nam. Phía Đông giáp tỉnh Cao Bằng. Phía Tây giáp tỉnh Yên Bái và Lào Cai. Phía Nam giáp tỉnh Tuyên Quang. Phía Bắc giáp tỉnh Vân Nam và tỉnh Quảng Tây, Trung Quốc.  Hà Giang có nhiều núi non hùng vĩ, có đỉnh Tây Côn Lĩnh cao 2419 m và ngọn Kiều Liêu Ti cao 2402m.
Tỉnh Hà Giang bao gồm thị xã Hà Giang và 10 huyện: Bắc Mê, Bắc Quang, Đồng Văn, Hoàng Su Phì, Mèo Vạc, Quản Bạ, Quang Bình, Vị Xuyên, Xín Mần, Yên Minh.

Đất Hà Giang xưa thuộc bộ Tân Hưng, một trong 15 bộ của nước Văn Lang. Về sau, Hà Giang nằm trong phạm vi của ba Tộc tướng xứ Thái. Trong giai đoạn Minh thuộc đầu thế kỷ 15, được gọi là huyện Bình Nguyên, đổi thành châu Bình Nguyên từ năm 1473, sau lại đổi tên thành châu Vị Xuyên. Vào cuối thế kỷ 17, tộc trưởng người Thái dâng đất cho Trung Hoa, đến năm 1728, Trung Hoa trả lại cho Đại Việt một phần đất từ vùng mỏ Tụ Long đến sông Lô. Năm 1895, ranh giới Hà Giang được ấn định lại như trên bản đồ ngày nay.

Hà Giang là vùng miền núi nên dân số trong tỉnh không đông, đồng bào Kinh chiếm đa số, còn lại là đồng bào các sắc dân Thổ, Mèo, Tày, Dao, Mán, Nùng, Giấy và Lô Lô. Thị xã Hà Giang là một thị xã đẹp nằm trong một thung lũng, bốn bên là núi, có dòng sông Lô chảy qua thị xã. Thị xã Hà Giang là trung tâm kinh tế, chính trị, văn hóa của tỉnh. Thị xã có khu di chỉ khảo cổ học Đồi Thông nằm ngay trong lòng thị xã, nơi đây đã tìm thấy hàng ngàn di vật từ thời tiền sử và được xác định là một trong những vùng văn hóa sớm nhất của Việt Nam.

Đến với Hà Giang phải kể đến các thắng cảnh: Hang Phương Thiện cách thị xã Hà Giang 7 km xuôi về phía nam. Đây là nơi có nhiều phong cảnh, nhiều hang động tự nhiên. Các loại quả đặc sản: mận, lê, cam, táo và các loại chè tuyết san cổ thụ mọc trên độ cao 900 m; Hang Chui cách thị xã Hà Giang 7 km về phía nam. Hang ăn sâu vào lòng núi khoảng 100 m. Cửa hang hẹp phải lách người mới qua được. Vào trong lòng hang mở rộng, vòm hang cao vút, nhiều nhũ đá rủ xuống đủ mọi hình thù. Đặc biệt hang có nhiều dơi, có dòng suối dâng cao đổ xuống thành thác; Động Tiên và Suối Tiên cách thị xã Hà Giang 2 km. Động có Suối Tiên rất đẹp. Tương truyền xưa, các tiên nữ vẫn thường xuống động này để tắm vào dịp Tết nên được đặt tên là Động Tiên. Nhân dân quanh vùng vẫn thường đến Động Tiên lấy nước và cầu may mắn vào lúc giao thừa; Động Én cách thị xã Hà Giang 60 km thuộc địa phận huyện Yên Minh. Từ thị xã Hà Giang qua cổng trời Quản Bạ, qua những cách rừng thông sẽ tới động Én. Hang động còn mang nhiều nét hoang sơ nhưng đẹp.

Đồng Văn- Cổng Trời là một huyện vùng cao biên giới của Hà Giang. Độ cao vùng khoảng 1.000 m so với mặt biển, địa hình hầu như chỉ thấy núi đá. Huyện lỵ cách thị xã Hà Giang 146 km. 9 trong 19 xã thuộc huyện có đường biên giới với Trung Quốc. Mùa đông nhiệt độ có lúc xuống đến 1°C, nhưng mùa hè nóng nhất chỉ khoảng 24°C. Bầu trời hầu như quanh năm mưa và mù nên ở đây người dân có câu: "Thấy nhau trong tầm mắt, gặp nhau mất nửa ngày" và "Đất không ba bước bằng, trời không ba ngày nắng". Đồng Văn có điểm cực bắc của Việt Nam tại xã Lũng Cú. Người ta nói rằng nếu chưa lên Lũng Cú thì coi như chưa đến Đồng Văn, bởi Lũng Cú là "Nóc nhà của Việt Nam" nơi mà "Cúi mặt sát đất, ngẩng mặt đụng trời". Đồng Văn nổi tiếng về trái ngon quả ngọt: đào, mận, lê, táo, hồng... về dược liệu: tam thất, thục địa, hồi, quế... Đồng Văn còn nổi riếng về phong cảnh như núi non, hang động, những rừng hoa đủ sắc màu...

Tại huyện Đồng Văn có Dinh họ Vương (Vương Chí Sình) thuộc địa phận xã Sà Phìn. Quy mô của dinh không lớn nhưng đây là một "Công trình kiến trúc đẹp hiếm có" và rất độc đáo của vùng cao nguyên này. Đoạn đường dẫn vào dinh chỉ dốc thoai thoải, được lát bằng những phiến đá lớn vuông vức, phẳng lỳ. Dinh được bao bọc bởi hai vòng tường thành xây bằng đá hộc. Vòng thành ngoài là một bức tường dày khoảng 40 cm, cao khoảng 2 m. Vòng thành trong dày và kiên cố hơn vòng thành ngoài. Cả hai vòng thành đều có lỗ châu mai. Giữa hai vòng thành là một dải đất rộng khoảng 50 m, trồng toàn trúc. Dinh có ba ngôi nhà sàn. Ngôi nhà chính quay mặt ra cổng thành, hai ngôi nhà phụ song song nhau và vuông góc với ngôi nhà chính. Cả ba ngôi nhà được làm bằng gỗ, từ cột, kèo, sàn, vách, mái đều làm bằng gỗ quý. Ngôi nhà chính là nơi ở của "Vua" họ Vương, ở đó hiện vẫn còn bức hoàng phi với bốn chữ "Biên chinh khả phong" được vua Nguyễn ban cho. Hai ngôi nhà kia dành cho những người phục vụ và lính bảo vệ.

Chợ tình Khâu Vai chỉ họp mỗi năm một lần vào ngày 27 tháng 3 âm lịch tại xã Khâu Vai, huyện Mèo Vạc. Truyện kể rằng, ngày xưa có một đôi trai gái thuộc hai bộ lạc yêu nhau. Người con gái rất xinh đẹp, bộ lạc của cô không muốn cô lấy chồng sang bộ lạc khác; còn bộ lạc bên chàng trai lại muốn cô về làm dâu bộ lạc của mình. Chính vì vậy mà hiềm khích giữa hai bộ lạc xảy ra. Mối thù của hai bộ lạc càng nhân lên khi tình yêu của họ càng thắm thiết. Một ngày kia, khi người con trai đang ngồi với người yêu của mình trên núi thì nhìn thấy cảnh tượng hai bộ lạc đang đánh nhau rất quyết liệt ở phía dưới. Họ biết tình yêu của họ là nguyên nhân chính. Để tránh đổ máu giữa hai bộ lạc, hai người đau đớn quyết định chia tay và hẹn sẽ gặp nhau mỗi năm một lần đúng vào ngày ấy. Địa điểm gặp nhau tại nơi họ vẫn thường hò hẹn - Khâu Vai. Dần sau đó, Khâu Vai trở thành nơi hò hẹn chung cho tất cả những người yêu nhau trong vùng. Chợ Khâu Vai ban đầu họp không có người mua, không có người bán. Khoảng mười năm trở lại đây, do nhu cầu cuộc sống nên ngày chợ họp ngoài việc hò hẹn, gặp gỡ, người ta mang cả hàng hóa đến bán ở chợ. Do vậy đến chợ Khâu Vai, người ta cũng có thể mua, bán, trao đổi những sản vật.

Hà Giang là nơi có nhiều sản phẩm văn hóa đặc sắc từ truyền thống lâu đời của các dân tộc, một địa danh du lịch đáng nhớ bởi cảnh quan thiên nhiên và con người ở đây. Lễ mừng nhà mới dân tộc Lô Lô  kéo dài khoảng 2 ngày 2 đêm ở ngôi nhà mới của người dân tộc Lô Lô. Cả bản kéo tới ăn mừng cho ngôi nhà mới. Thầy cúng đi hát, sau đó cùng ăn uống vui chơi, hòa tấu kèn sáo và hát giao duyên nam nữ. Lễ hội mùa xuân của dân tộc H'mông và dân tộc Dao, thường được tổ chức vào những ngày sau Tết Nguyên Đán và kéo dài từ 3 đến 7 ngày. Lễ hội mang tính chất tổng hợp mừng công, cầu mưa, cầu con trai. Lễ hội có thi bắn nỏ, hát giao duyên, ném pa páo, uống rượu, mở tiệc đãi khách.

Không giống với bất kỳ một nơi nào ở Việt Nam, đến Hà Giang, chúng ta có thể thấy được những sản phẩm kết tinh từ truyền thống văn hóa độc đáo của đồng bào miền núi nơi đây với những nét đặc trưng mến thương và vô cùng quyến rũ.

CB

Những vế đối khó mà vui

Truyện làng văn nghệ Trackbacks (0) Bản in góp ý (52)   


NHỮNG VẾ ĐỐI KHÓ MÀ VUI

Truyện vui của họa sĩ Lê Bá Hạnh


Chiếc xe máy "đề" không nổ, đạp không nổ, đun không nổ... Ông chủ tiệm sửa xe đang đọc tờ báo cũ, vụt đứng dậy vứt xuống ghế, buông một câu xanh rờn: "Sẽ được thưởng một chiếc xe Cúp "xịn" nhất, nếu tìm được vế đối, câu thách đối này!.."

Tôi tò mò cầm tờ báo lên đọc, thì khủng khiếp: toàn những câu đối  đã truyền miệng nhiều năm như kiểu chơi chữ "Da trắng vỗ bì bạch" làm đau đầu hoa mắt. Nhưng đoạn cuối những câu thách đối có nói rõ giải thưởng như ông chủ hiệu sửa xe đã nêu. Chiếc mồi câu: Xe máy "xịn" bóng loáng, êm ro, lướt như bay...  khiến  tôi can đảm mượn tờ báo về nghiên cứu và viết, tạp chí Cửa Biển lại cần bài về câu đối số Tết. Tổng biên tập Tô Hoàng Vũ nhận bài, nhưng tôi chỉ dám lấy bút danh Lê Phúc Hạnh để các hoạ sĩ khỏi chê mình là vịt: đi cũng biết một tí, bơi cũng biết một tí, bay cũng một tí...

Tôi nhớ lại một chuyến đi, với câu truyện có tiêu đề: "NHỮNG VẾ ĐỐI KHÓ MÀ VUI!"

Chính uỷ trong đơn vị cũ của tôi sinh ra ở Hà Tiên, làm rể đất Cảng, con trai lớn là lái xe cho của Công ty Du lịch, tài trợ chính cho chuyến đi thăm lại chiến trường xưa Quảng Trị...
Một cựu chiến binh mở tờ báo cũ đọc bài: "Đi dọc miền Trung- Những vế đối vui mà khó" tác giả Ngô Thi. Những vế đối khó đến ác liệt, những kiểu "chơi chữ" sành điệu của học giả uyên thâm. Cũng là thú vui tao nhã, đam mê và sâu đậm với cảnh, với người, duyên nợ, nợ mãi không thôi. Để người chơi day dứt mỗi độ xuân về!

Đoàn chúng tôi tạm nghỉ ở Sầm Sơn (Thanh Hoá) anh cựu chiến binh ngâm nga đọc vế đối: "Cặp trai gái thăm hòn Trống Mái- ngồi quán trống mái, toan giở trò trống mái". Chúng tôi đứng lặng ngắm hai hòn đá Trống- Mái mà ái ngại cho đôi trai gái nào đó đã làm mất đi vể đẹp nơi đây bền vững và đỉnh đạc biết bao. Khi đứng dưới chân hòn Trống - Mái nhìn bao quát cả khu vực bãi tắm trải dài tắp tít, biết bao đôi nam nữ đang nô dùa với sóng biển xanh ngắt. Chính uỷ kéo cậu con trai đến bên hòn Trống Mái chụp ảnh kỉ niệm.Chính uỷ bảo chúng tôi: "Dịp này xe đến tận Hà Tiên thì hay biết mấy..."

Ngay lúc ấy anh cựu binh nói to: "Bức ảnh đây chính là vế đối, còn xa xôi gì nữa: "Hai cha con đến hòn Phụ- Tử, đứng nhìn tử phụ, đẹp như hòn Phụ- Tử" Nhiều cựu binh còn bắt bẻ "bằng trắc luật lệ" nhưng mọi người đều thừa nhận ý tứ đối đáp như thế là... miễn chê...

Buổi trưa chúng tôi chọn một quán cơm ven đường. Chính uỷ vừa nhắp chén rượu ngâm nga vế đối: "Đến xứ Nghệ, ghé quán Hành, uống rượu gừng, nói cà riềng, cà tỏi"
Rượu quán Hành nhấp vào mềm môi, tiếng "khà" như đẩy mùi thơm của rượu, mũi động đậy hít vào cái mùi thơm của men, hương vị của nếp. Nó đầm đậm trong cổ nửa như muốn giữ lại để nhẩn nha thưởng thức, nửa như muốn uống một hơi cả chén để hưởng nguyên vị đậm êm mà chỉ quán Hành mới có.

Tiếng cụng li lách cách, anh cựu binh lên tiếng: Tôi xin đọc vế đối, các đồng chí góp ý nhé: "Qua Đồng Xoài, Thăm núi Hồng, ăn cơm dừa, ngủ còn mơ, chanh chấp"
Một cựu binh khác chỉnh lại: "Về Làng Sen, đến Núi Hồng, uống trà nhài, trà ngâu"

Thứ rượu Quán Hành làm cả xe chúng tôi cứ như cổ động viên bóng đá, ai cũng nói, ai cũng nghe, chẳn mấy chốc đã tới Hà Tĩnh. Chính uỷ tôi vẫn là người xướng lên vế đối: "Đến Kỳ Anh, anh kỳ em, em kỳ anh, đến kỳ lương sẽ trả"

Quả thật vế đối rất khó, toàn anh với em, kỳ anh, kỳ em, kỳ lương... Cả xe như nín lại, lặng im suy nghĩ. Bỗng một cựu binh lên tiếng: "Các bạn quên rồi sao? Bữa trước chính uỷ đã chiêu đãi chúng ta một chầu tuý luý tại nhà hàng Trọnh Khách, tôi xin đọc vế đối là: "Vào Trọng Khách, khách trọng chủ, chủ trọng khách, đâu trọng tiền khinh xuất"

Một cựu binh khác bổ xung: "Các đồng chí có biết bữa vào nhà hàng Trọng Khách, chính uỷ chúng ta phải ký sổ nợ bao nhiêu không? Hôm đó cậu lính trẻ đã gọi chai rượu Tây, uống xong xót cả ruột , chính uỷ thì xua tay: "Không sao, không sao, chỗ quen biết mà, theo tôi chỉnh lại vế đối thế này: "Vào Trọng Khách, khách trọng chủ, chủ trọng khách, vì Trọng Hiền kí nợ" các anh có thấy phố bên có quán Trọng Hiền rõ to đó thôi.

Đến đất Quảng Bình, vẫn anh cựu binh trẻ háo hức đọc to vế đối: "Mặc gió rét, bão gầm, sóng gào, đảo Hòn La vẫn vững"
Bác Hoà một cựu binh già từ nãy đến giờ vẫn im lặng, bật lên cười khà khà cất cao giọng: "Các cậu đã qua quê "choa" đấy thôi. Tớ có vế đối là: "Dù nắng cháy, cát nung, gió nóng, biển Cửa Lò cứ xanh" Cả đoàn chúng tôi "à" lên và nhìn "choa" tuy ít lời nhưng không quên Xứ Nghệ của mình cũng oanh liệt lắm chứ? Đâu có chịu thua ai!

Anh cựu binh trẻ mở báo đọc tiếp vế đối: "Chợ Đông Ba, đông ba buổi" Một cựu binh nhanh nhảu đối lại: "Hàng Tốn nhiều, tốn nhiều ngày". Một cựu binh già chậm rãi nói: "Ừ, Tốn là hướng Đông Nam thôi, sao bằng quê tớ, tại buổi thi nấu cơm vừa rồi làng Khôn Nhất của tớ được giải nhất; tớ xin đọc vế đối là: "Làng Khôn Nhất, khôn nhất làng"

Cả xe râm ran nhớ tới làng Khôn và hội thi nấu cơm của làng quê bác mới đáng nhớ làm sao? Anh cựu binh trẻ cao giọng xin trật tự mở báo đọc tiếp vế đối mới:
-Đến Cồn Hến, hát nghêu ngao.
-Thăm Cồn Tiên, múa rồng phượng. (Vẫn anh cựu binh nhanh nhảu ứng đối)
-Về hàng gà, vẽ ngan ngỗng. (Bác Hoà đọc nối tiếp)
-Thăm Đầm Vạc, múa lông công. (Bác Đạt, một cựu binh bổ xung)

Anh cựu binh trẻ châm chọc: "Nghe nói đợt bác đi Đầm Vạc, bị mất đồ, bác gái kêu lắm cơ mà" Bác Đạt cười "khùng khục" Vậy vế đối của mình phải sửa là:
-Thăm Đầm Vạc, kêu công cốc.

Cả xe được trận cười ầm ĩ. Bác Đạt đánh trống lảng: "Các đồng chí có giỏi xin đối hộ vế đối rất khó của nhà thơ Nguyễn Văn Dinh đất Quảng Bình, thách đối thế này: "Sắm mâm ngũ quả, chưng năm trái sầu riêng, vui chung ba ngày tết". Câu đối này làm nhà báo Ngô Thi đã đỏ mặt, đành chịu, nhờ quý vị xa gần... Bạn nào đối được có thưởng lớn (?)
Cả xe im lặng, đã mâm ngũ quả lại, năm quả nữa, vừa sầu riêng lại vui chung nữa chứ? Tiên sinh họ Nguyễn cao thủ thật. Đây là quái chiêu của các bậc hiền triết, nhận được giải của nhà thơ đâu có dễ...

Anh cựu binh trẻ láu táu, vui vể nhất trong xe, giờ im lặng từ tốn: "Các bác có biết không? Gần chục năm qua, không có cái buồn nào hơn cái buồn làm việc xa nhà, xa vợ con, ba ngày Tết phải thường trực cơ quan. Nhưng bây giờ đã khác. Có lẽ nhà thơ họ Nguyễn đã nói hộ em điều đó, em xin đọc vế đối của em là:
-Mua đĩa bát hoa, bày tám trái khổ qua, mừng lại tuần xuân sắc.

Chúng tôi mừng cho anh cựu binh trẻ, cái khổ đã qua, đón ngày xuân mới với vợ con. Chính uỷ chúng tôi cười to hết cỡ: "Cậu đã giúp tớ khỏi phải trằn trọc mãi về câu đối của nhà thơ Quảng Bình, dải đất nghĩa nặng tình sâu mà chúng ta có một quảng đời trai trẻ gắn bó"...
Chính uỷ nhắc tôi chấp bút chuyến đi thú vị này!

Bài giải thách đối Tết năm ấy, sang Tết thứ hai và gần đến Tết thứ ba  mà tôi vẫn phải dùng cái xe máy "đề" không nổ, đạp không nổ, đun không nổ... đun mãi mới nổ...

LBH

Design by JuliettaRose Studio.
Powered by Vnweblogs.