Ấn tượng từ một Hội thảo thơ

By Nguyễn Minh Trí

alt

  Thơ đi về đâu? Câu hỏi không dễ trả lời. Tìm kiếm một hướng đi là cả cuộc hành trình đầy phiêu lưu vất vả có khi đánh đổi cả một đời thơ mà chắc gì đã tới đích. Đổi mới nói cách khác cách tân luôn là nhu cầu tự thân của sự sáng tạo. Giữa cái mới và cái lạ cũng khác nhau. Cái mới phải thể hiện xu thế phát triển tất yếu mang tính quy luật.

ẤN TƯỢNG TỪ MỘT HỘI THẢO THƠ

Sáng chủ nhật ngày 27.3.2011 tại Cung Văn hoá Lao động Hữu nghị Việt Tiệp Hải Phòng đã diễn ra Hội thảo: “Thơ- Thực trạng và hướng tìm”. Tham dự Hội thảo có Nhà nghiên cứu lý luận phê bình văn học nghệ thuật Phạm Xuân Nguyên Nhà thơ Đoàn Mạnh Phương Nhà thơ Vương Tâm Nhà thơ Nguyễn Đăng Luận Nhà thơ Nguyễn Vinh Huỳnh Nhà thơ Thanh Nhị Nhà thơ Hàn Thuỷ Giang;… Các Câu lạc bộ thơ tại Hải Phòng cùng đông đảo các Nhà thơ và Người yêu thơ đất Cảng. Sau bài phát biểu khai mạc của đồng chí Nguyễn Thanh Bình Phó Giám đốc Cung Văn hoá Lao động Hữu nghị Việt Tiệp; Là báo cáo đề dẫn của Nhà thơ Phạm Ngà Nguyên Phó Chủ tịch Hội LH Văn học Nghệ thuật Hải Phòng Nguyên Giám đốc- Tổng Biên tập Nhà xuất bản Hải Phòng Chủ nhiệm CLB Thơ Việt Tiệp. Báo cáo có đoạn: “Thơ đi về đâu? Câu hỏi không dễ trả lời. Tìm kiếm một hướng đi là cả cuộc hành trình đầy phiêu lưu vất vả có khi đánh đổi cả một đời thơ mà chắc gì đã tới đích. Đổi mới nói cách khác cách tân luôn là nhu cầu tự thân của sự sáng tạo. Giữa cái mới và cái lạ cũng khác nhau. Cái mới phải thể hiện xu thế phát triển tất yếu mang tính quy luật”.

Nhà nghiên cứu lý luận phê bình văn học nghệ thuật Phạm Xuân Nguyên- Chủ tịch Hội Nhà văn Hà Nội với vị trí trong Ban Chủ tọa Hội thảo đã có những dẫn dắt và đặt vấn đề cũng như giải quyết vấn đề một cách linh hoạt sắc sảo cuốn hút người tham dự. Với tham luận có tựa đề: “Thơ cách tân tìm đường đi vào lòng công chúng”; Nhà thơ Đoàn Mạnh Phương- Hội viên Hội Nhà văn Việt Nam Giám đốc Tổng biên tập Trung tâm Thông tin Truyền thông Vì môi trường phát triển Thành phố Hà Nội; đã có những suy nghĩ: “Thơ đã kén bạn đọc thơ cách tân đổi mới càng kén bạn đọc hơn. Con đường đi vào lòng công chúng như đi vào con đường đầy cỏ gai rậm rạp phải có một bản lĩnh đủ để bước tiếp con đường mà nhà thơ đã chọn đúng như câu ngạn ngữ: Có đi là có đường!”. Trong tham luận: “Đi tìm cái đẹp trong thơ”; Nhà thơ Minh Trí- Uỷ viên thường vụ Hội Liên hiệp Văn học Nghệ thuật Hải Phòng Uỷ viên Ban chấp hành Hội Nhà văn Hải Phòng Phó Chủ nhiệm CLB Thơ Việt Tiệp có đoạn: “Cái đẹp và sự thi vị như món quà tinh thần quý giá mà nhà thơ dâng tặng cho người đọc và cuộc đời. Cái đẹp trong thơ hiện nay gắn với nhà thơ là nhà thơ phải có tài đã đành nhưng đồng thời phải có lý tưởng xã hội. Lý tưởng xã hội là năng lượng của nhà thơ là mục đích cao nhất là lẽ sống đẹp nhất”.

Nhà thơ Phạm Xuân Trường với tham luận được coi là dài nhất của hội thảo với tựa đề: “Thơ lục bát trong tâm hồn người Việt” thực sự đã cuốn hút người nghe từ đầu chí cuối bởi những lập luận và dẫn chứng kỹ lưỡng chọn lọc đầy thuyết phục. Anh viết: “Trong dòng chảy hàng nghìn năm và quá trình vận động. Lục bát đã ngấm ngầm sinh sôi và tồn tại. Lục bát uyển chuyển giãi bày tâm tư tình cảm có hồn có nhịp có vần có điệu. Là máu chảy trong huyết quản để nuôi sống tâm hồn người Việt”. Và: “Thơ lục bát dễ làm nhưng khó hay. Vì kết cấu vần thanh điệu bằng trắc. Có thể ví thơ lục bát như diễn viên xiếc đi trên giây thép. Nghiêng bên này là văn vần nghiêng bên kia là diễn ca hò vè. Dù vần thật chuẩn nhưng là ghép thì câu thơ thiếu sức sống không làm lay động hồn người đọc”. BTV Nguyễn Ánh Nguyệt NXB Hải Phòng với tham luận: “Xuất bản thơ trong cơ chế thị trường” đã cho thấy những nỗi niềm của người làm xuất bản trước thực trạng thơ hiện nay. Chị viết: “Có thể nói chưa bao giờ thơ và phong trào in thơ lại bùng phát một cách rầm rộ và khó kiểm soát như thời gian gần đây. Chỉ tính riêng năm 2010 Nhà Xuất bản Hải Phòng đã cấp hơn 200 giấy phép cho các đầu sách thuộc thể loại văn học nghệ thuật trong đó trên 90% là đầu sách thơ và các bản thảo giông giống như thơ”. Chị đặt vấn đề: “Để tìm ra lối thoát cho chất lượng thơ giảm tải khủng hoảng thừa cho xuất bản thơ mà vẫn giữ được những ưu thế của thơ nên chăng cần phải tổ chức nhiều hơn nữa các buổi giao lưu hội thảo về thơ tạo nên những diễn đàn sinh hoạt lành mạnh để các nhà thơ những người yêu thơ có điều kiện trao đổi học hỏi lẫn nhau về kinh nghiệm làm thơ”.

Nhà biên kịch điện ảnh Nguyễn Long Khánh- Chủ tịch Hội Điện ảnh Truyền hình Hải Phòng với những kịch bản phim nổi tiếng hiện đang phát sóng trên VTV. Anh cũng là người nhiều năm qua quan tâm và có những bài nghiên cứu phê bình về văn học nghệ thuật đã có bài tham luận nhìn nhận về thơ và đội ngũ làm thơ đất Cảng. Anh Nguyễn Trọng Khôi- Viện đào tạo và phát triển giáo dục có bài tham luận với tựa đề: “Tính giản dị trong thơ”. Anh viết: “Mong muốn của tôi và một số người đọc gần gũi rất cần thơ giản dị thật và trong sáng. Qua những biểu hiện có chất giản dị để đến với cảm thụ văn hoá của quảng đại quần chúng hôm nay”. Tác giả Trọng Lập với tham luận: “Đôi điều cảm nhận về thơ”. Anh giãi bày: “Thơ là nơi ta giãi bày niềm vui nỗi buồn hay cùng ta bâng khuâng lang thang trong miền thăm thẳm cô đơn. Thơ là tiếng nói của tâm hồn. Thơ là nghệ thuật thứ nhất trong bảy môn nghệ thuật của loài người”. Nhà thơ Thuý Ngoan với tham luận: “Vai trò thơ ca trong đời sống”. Chị giãi bày: “Thơ ca trước hết là cảm nhận tâm hồn của tác giả với những cảm xúc dồn nén cũng như trạng thái thiếu hụt những lúc cô đơn nhất đau khổ nhất những lúc tâm hồn cần lắng xuống hay những giờ phút hạnh phúc tràn đầy. Lúc đó ta tìm đến với thơ để giải bày chia sẻ sau những ngày mệt mỏi với những trải nghiệm cuộc sống đầy phong phú”.

Nhà thơ Nguyễn Đăng Luận Hội viên Hội Nhà văn Hà Nội Chủ nhiệm CLB Sáng tác Văn học Hà Nội có tham luận với tựa đề: “Nhận định về thơ và tác động của thơ đến cuộc sống”. Với những trải nghiệm trong thực tế sáng tác anh đã có những câu chuyện cùng những dẫn chứng sinh động minh họa cho bài phát biểu của mình. Trong đó đặc biệt phải kể đến tình cảm của anh dành cho các bạn thơ Hải Phòng. Trung tá nhà thơ Đinh Thường với bài tham luận: “Thơ và người lính” đã chắt lọc từ thực tế công việc và sáng tác về đề tài người lính của mình. Anh viết: “Khi chiến tranh đã đi qua nhưng những ám ảnh của nó vẫn thúc giục các tác giả cầm bút và các hoạt động quân sự căng thẳng cùng với cuộc sống khó khăn gian khổ nhưng nhiều khát vọng của người lính trong điều kiện thời bình đã tạo cảm hứng mới cho người sáng tác vừa hào hùng vừa nặng tính trữ tình”. Tác giả Vũ Nuôi trong tham luận của mình đã thành thực tâm sự: “Hiện có nhiều bạn thơ làm thơ. Viết đại trà không nâng lên thành thơ được dễ rơi vào dạng văn vần. Thơ tôi có đôi câu đôi bài cũng rơi vào dạng ấy”. Tác giả Đỗ Phúc với tham luận “Con đường thơ” phát biểu: “Thơ là không thể thiếu trong đời sống tinh thần vì vậy thơ phát triển sâu rộng và mạnh mẽ không chỉ trong người viết chuyên nghiệp mà mở rộng trong mọi đối tượng mọi cung bậc trí tuệ và đời sống tư duy sáng tạo cũng được phát triển không ngừng”.

Mặt trời đứng bóng nhưng khán phòng vẫn đông đủ dường như thời gian trôi đi quá nhanh và mọi người còn nhiều điều cần bàn bạc trao đổi. Một số tham luận đã chuẩn bị phải dừng lại bởi khuôn khổ thời gian có hạn. Nhà nghiên cứu lý luận phê bình văn học nghệ thuật Phạm Xuân Nguyên- Chủ tịch Hội Nhà văn Hà Nội đánh giá cao sáng kiến tổ chức Hội thảo: “Thơ- Thực trạng và hướng tìm”. Đây là cơ hội cho những người làm thơ ngồi với nhau bàn bạc trao đổi. Sáng tác thơ và bàn luận về thơ là của muôn nhà của mọi người. Vấn đề đặt ra hôm nay đã vượt khỏi nơi xuất phát ban đầu trở thành mối quan tâm chung của giới văn chương cùng rộng rãi những người làm thơ yêu thích thơ ca.  Hội thảo hôm nay cũng chỉ là bước đầu trên tinh thần cởi mở dân chủ đảm bảo tính khách quan khoa học vừa sức phù hợp khả năng điều kiện cụ thể nhất định. Kết thúc hội thảo Nhà thơ Phạm Ngà- Chủ nhiệm CLB Thơ Việt Tiệp phát biểu: “Hy vọng qua cuộc hội thảo này sẽ đón nhận được sự đồng tình hưởng ứng những ý kiến đóng góp trao đổi sâu sắc thân tình của rộng rãi các nhà thơ các nhà lý luận các tác giả cùng các bạn thơ nhằm góp một phần nhỏ bé vào một đề tài rộng lớn khơi dậy thêm nhiệt tình trách nhiệm nâng cao nhận thức bản lĩnh nghề nghiệp chất lượng sáng tác lựa chọn một hướng đi thích hợp có sức thuyết phục đối với một loại hình nghệ thuật đầy quyền năng và quyến rũ bao đời nay”.

CB

 

 

More...

Thơ- Hiện trạng và hướng tìm

By Nguyễn Minh Trí

alt

 Sáng chủ nhật  27.3.2011; Tại Cung Văn hoá Lao động Hữu nghị Việt Tiệp Hải Phòng diễn ra Hội thảo: “Thơ- Hiện trạng và hướng tìm”. T ham dự Hội thảo có Nhà nghiên cứu phê bình văn học nghệ thuật Phạm Xuân Nguyên Nhà thơ Nguyễn Đăng Luận   Nhà thơ Vương Tâm Nhà thơ Đoàn Mạnh Phương ...; Các CLB Thơ tại Hải Phòng cùng đông đảo các Nhà thơ và Người yêu thơ đất Cảng. Sau đây CB xin giới thiệu đến bạn đọc báo cáo đề dẫn của Nhà thơ Phạm Ngà- nguyên Phó Chủ tịch Hội LHVHNT HP nguyên Giám đốc NXB HP Chủ nhiệm CLB Thơ Việt Tiệp- Hải Phòng.

THƠ- HIỆN TRẠNG VÀ HƯỚNG TÌM

Có lẽ chưa khi nào như những tháng năm này thơ ca lại sôi nổi rầm rộ đến thế. Đó không chỉ đối với những người làm thơ yêu thích thơ mà như đã trở thành phong trào rộng khắp của nhiều tầng lớp nhân dân như một hội chứng thơ ca. Nhìn về phía phong trào thì đó là một điều đáng mừng một niềm tự hào đối với loại hình nghệ thuật xuất hiện từ thuở bình minh của loài người từ khi con người biết tư duy hình tượng đến nay. Tuy nhiên cũng từ hiện trạng này không khỏi còn những băn khoăn quan ngại. Bên cạnh những tác phẩm có chất lượng để lại ấn tượng sâu đậm trong trong lòng bạn đọc qua nhiều thế hệ còn nhiều tác phẩm thường thường bậc trung thậm chí dễ dãi non yếu. Việc in ấn đăng báo xuất bản tràn lan; chưa bao giờ ra một cuốn sách lại thuận lợi dễ dàng đến thế. Việc tìm tòi thể nghiệm hướng đi còn nhiều lúng túng. Vì lẽ đó sẽ không bao giờ thừa nếu như tiếp tục mở ra những cuộc trao đổi hội thảo mặc dù vẫn biết xưa nay đã tốn quá nhiều công sức thời gian trí tuệ về lĩnh vực này và cũng nhận thức rằng không phải cứ qua đây thơ ca sẽ bỗng chốc hay lên hoặc dở đi.

Trong nhiều năm nay từ khi bước vào công cuộc đổi mới có thể sớm hơn thế nhất là trong thời kỳ hội nhập hiện nay văn học nghệ thuật nói chung thơ ca nói riêng có phần cởi mở hơn về đề tài nội dung bút pháp và cả phương thức thể hiện. Ngoài những tác phẩm ngợi ca cuộc sống và con người vốn dĩ đã trở nên quen thuộc thơ ca còn mở rộng biên độ phản ánh cách tiếp cận hiện thực đề cập đến nhiều lĩnh vực khác cả mặt phải lẫn mặt trái của xã hội triết luận về thế sự trên tinh thần hướng thiện và cảm xúc thẩm mỹ lành mạnh với sứ mệnh cao cả của nghệ sỹ phản ánh những vấn đề lớn lao của nhân dân đất nước từ những dư chấn của xã hội đến những trạng thái khác nhau của tâm tư tình cảm những góc khuất của tâm hồn con người từ những gì trần trụi đến cái vi diệu nhất của cái tôi thầm kín ý thức và vô thức cõi thực cùng tâm linh và cùng với việc khám phá thế giới là khám phá ngay chính bản thân  mình. Đã thấy bớt đi những kể lể dông dài trước đây có khi chỉ còn phù hợp những lúc cần thiết để thiên về suy tư và  biểu cảm. Với cách diễn đạt đa thanh đa nghĩa tiết tấu thơ như nhanh hơn trường liên tưởng rộng hơn hàm lượng thơ dồn nén hơn   nhà thơ có thể phát huy cao độ tài năng bộc lộ bản sắc cá tính phong cách với các điệu thức khác nhau bằng cấu trúc phức hợp đa tầng. Nhiều thể thơ được sử dụng linh hoạt biến ảo đan xen giao thoa các hình thức biểu đạt. Vần điệu không hẳn giữ khuôn phép nghiêm ngặt như xưa mà thoáng đãng hơn với những quãng cách xa hoặc ẩn chìm mà vẫn giữ được nhạc điệu cần thiết. Với những thể thơ truyền thống như lục bát vẫn phát huy và chiếm vị thế quan trọng trong thơ ca đồng thời như cũng đã có phần biến chuyển.

Thơ đi về đâu? Câu hỏi không dễ trả lời. Tìm kiếm một hướng đi là cả cuộc hành trình đầy phiêu lưu vất vả có khi đánh đổi cả một đời thơ mà chắc gì đã tới đích. Đổi mới nói cách khác cách tân luôn là nhu cầu tự thân của sự sáng tạo. Giữa cái mới và cái lạ cũng khác nhau. Cái mới phải thể hiện xu thế phát triển tất yếu mang tính quy luật. Thế nào là đổi mới? Từ sự phát triển nội tại hay nhập cảng một xu thế ngoại lai hay phối thuộc cả hai rồi còn biết bao sự ảnh hưởng khác quanh những nỗi phân vân về trào lưu “hiện đại” rồi“ hậu hiện đại” từ thế giới bên ngoài với những mảnh vụn rời rạc xáo trộn mờ ảo của hiện thực sự bứt phá ngoạn mục của loại thể cùng trò chơi ngôn ngữ. Tác phẩm văn học nghệ thuật nói chung thơ ca nói riêng luôn là cá thể đơn nhất không lặp lại cho dù có thể nhân lên muôn hình bản đi chăng nữa. Bởi thế dấu ấn cá nhân là thứ đặc sản không lẫn với ai khác. Một khi tác phẩm không có được dấu ấn đó dù chỉ đôi chút thì quả là một thiệt thòi lớn. Lại nữa khi trình độ dân trí nâng cao khi mà tin học vào tận giường ngủ của mỗi người một nhịp sống đang “số hóa” thì người đọc đâu chỉ thưởng thức thụ động thơ ca mà chừng mực nào đó tham gia gián tiếp vào tác phẩm nói như ai đó với thơ ca sáng tác của nhà thơ chỉ là một nửa; một nửa còn lại thuộc về bạn đọc tùy thuộc thị hiếu năng lực sở thích mà cảm thụ tác phẩm không giống nhau và đương nhiên bạn đọc ít nhiều có hiểu biết và tâm huyết với thơ ca. Sáng tác cảm thụ văn học nghệ thuật phải trên nền tảng văn hóa trước kia đã thế và bây giờ càng phải thế. Không thể biện minh là để phục vụ quần chúng mà hạ thấp tiêu chí chất lượng thơ. Cũng không thể coi thơ chỉ dành cho số ít thậm chí qua ít có khi như chỉ viết riêng cho bản thân mình. Còn một thước đo nữa đó là thời gian. Có tác phẩm đã tàn lụi ngay từ khi mới ra đời. Ngược lại nhiều tác phẩm bất hủ xưa nay được truyền tụng rộng khắp bây giờ đọc lại vẫn còn nguyên giá trị vẫn rất mới mà nhiều khi cũng rất hiện đại.

Xem thế hướng tìm tòi đâu chỉ đơn phương bắt đầu từ ý muốn chủ quan tư biện của nhà thơ mà từ nguồn cội từ sự thôi thúc bên trong của tâm lý ý thức nẩy sinh trên nền tảng kinh tế xã hội từ truyền thống văn hóa dân tộc những yếu tố nội sinh và phần nào cả yếu tố ngoại lai khác nữa. Nói cho công bằng trong sự tìm tòi đổi mới thơ ca cũng có những  kết quả nhất định. Một lớp người dường như đã không bằng lòng đúng hơn là không cam chịu với lối viết đã quen mòn thống trị một thời đã loay hoay tìm cách bứt phá cả về nội dung lẫn hình thức nghệ thuật. Cũng cần phải hoan nghênh sự mạnh dạn dũng cảm của những tác giả đã đi tiên phong đương đầu với những thách thức khó khăn cho dù chưa hẳn đã chiếm lĩnh ngay được trên thi đàn mà còn phải chờ sự kiểm chứng của thời gian sự tiếp nhận của công chúng. Tuy nhiên cũng cần tránh sự ngộ nhận hoặc giả men theo những yếu tố ngoài văn chương ngụy tạo một tiếng nói không đáng có. Một số khác ngay cả những cây bút tuy tuổi đời không còn trẻ nữa cũng không muốn lặp lại lối viết quen thuộc kể cả nhờ đó một thời đã làm nên sự nghiệp của bản thân đã tìm cách vò rối bẻ gẫy câu thơ vốn đang lành lặn giản dị dễ hiểu mà hiệu quả đem lại có chăng cũng chỉ để giải quyết tâm lý ý thức về sự đổi mới hơn chính bản thân sự đổi mới đó. Như thế hướng tìm của thơ đâu phải đã có thể dễ dàng khẳng định cùng thống nhất ngay được. Có điều như trong một vườn hoa muôn màu sắc cần biết đón nhận những dáng vẻ khác nhau làm nên sự phong phú đa dạng của văn chương cụ thể ở đây là thơ ca trong sự vận động phát triển của nó. Dù viết theo thể thức nào thì cũng phải viết cho hay và thơ phải đi vào lòng người.

Mở ra cuộc hội thảo này chúng ta không làm thay bất kỳ tổ chức đơn vị nào khác. Sáng tác thơ và bàn luận về thơ là của muôn nhà của mọi người. Vấn đề đặt ra hôm nay đã vượt khỏi nơi xuất phát ban đầu trở thành mối quan tâm chung của giới văn chương cùng rộng rãi những người làm thơ yêu thích thơ ca. Việc bàn bạc trao đổi ở đây cũng chỉ là bước đầu trên tinh thần cởi mở dân chủ đảm bảo tính khách quan khoa học vừa sức phù hợp khả năng điều kiện cụ thể nhất định. Hy vọng trong cuộc hội thảo này sẽ đón nhận được sự đồng tình hưởng ứng những ý kiến đóng góp trao đổi sâu sắc thân tình của rộng rãi các nhà thơ các nhà lý luận các tác giả cùng các bạn thơ nhằm góp một phần nhỏ bé vào một đề tài rộng lớn   khơi dậy thêm nhiệt tình trách nhiệm nâng cao nhận thức bản lĩnh nghề nghiệp chất lượng sáng tác lựa chọn một hướng đi thích hợp có sức thuyết phục đối với một loại hình nghệ thuật đầy quyền năng và quyến rũ bao đời này chăng?

PHẠM NGÀ



 

More...

Đi tìm cái đẹp trong thơ

By Nguyễn Minh Trí

alt

ĐI TÌM CÁI ĐẸP TRONG THƠ

Thơ là một bộ phận không thể thiếu của văn chương thơ rất gần gũi với đời sống tinh thần của con người từ thời cổ đại cho đến ngày nay. Có quan niệm cho rằng thơ là cứu cánh là mục đích cuối cùng của văn chương. Cái đẹp trong thơ là vì con người vì cuộc sống của con người và luôn hướng con người đến cái chân thiện mỹ. Nhưng để được có định nghĩa về thơ như thế nào cho thật chính xác thật hợp lý đúng với bản chất của thơ thì không đơn giản. Ở phương Đông đã có một định nghĩa về thơ như sau: Căn (rễ)- là tình là gốc của thơ; Miêu (cành)- là ngôn là lời thơ; Hoa (hoa)- là thanh là âm thanh là tính nhạc trong thơ; Thực (quả)- là nghĩa là ý nghĩa là tác dụng của thơ đối với cuộc sống của con người. Cái đẹp và sự thi vị như món quà tinh thần quý giá mà nhà thơ dâng tặng cho người đọc và cuộc đời. Cái đẹp trong thơ hiện nay gắn với nhà thơ là nhà thơ phải có tài đã đành nhưng đồng thời phải có lý tưởng xã hội. Lý tưởng xã hội là năng lượng của nhà thơ là mục đích cao nhất là lẽ sống đẹp nhất. Viết cho ai viết để làm gì? Vẫn là hai câu hỏi tưởng như không khó trả lời nhưng thực tiễn sáng tạo thơ là ở một số hiện tượng làm cho người đọc không yên lòng.

Thơ quyến rũ người đọc bởi sự sâu lắng của cảm xúc tư duy thơ giàu tính chiêm nghiệm và hình tượng thơ mơ hồ đa nghĩa và lung linh tác động mạnh vào trực giác của người đọc chính là đi tìm cái độc đáo cái duy nhất của tình yêu và cái đẹp giữa thế giới mênh mang và bao la của trời đất của đời người. Sự hoài niệm của một người từng trải về bóng dáng tình yêu bóng dáng của nỗi đau trước sự biến đổi của thời gian. Bản chất xã hội của nhà thơ là con người xã hội là hơi thở của thời đại. Cái đẹp của câu thơ phải đến với nhiều người càng nhiều người càng tốt. Còn chuyện đi tìm cái tự do tuyệt đối của nhà thơ coi thơ ca chỉ là ảo ảnh của cuộc đời thơ ca được viết không cho ai cả có lẽ chỉ là chuyện viển vông. Đó chưa kể khi tâm hồn nguội lạnh thái độ dửng dưng của nhà thơ trước những hiện tượng nóng bỏng của xã hội thì nói gì đến câu thơ đẹp có ích cho đồng loại. Định mệnh của nhà thơ là sự kiếm tìm cái đẹp trong cõi xa xăm và thăm thẳm của sự sống của đời người. Thơ ở độ chín của tư duy và có sự sâu sắc của sự trải nghiệm sự lung linh ảo hóa của hình tượng ngôn ngữ thi ca. Thơ cách tân quyết liệt về hình thức nghệ thuật. Cái hay của thơ là sự khám phá và bộc lộ thế giới nội tâm bí ẩn của chủ thể trữ tình. Một tấm lòng và tâm hồn đa mang. Đắm đuối trước tình yêu cái đẹp và thân phận của con người. Thơ được diễn đạt theo hình thức có vần điệu hoặc không vần điệu. Thơ vừa thuộc tình cảm vừa thuộc lý trí. Ngoài ra câu thơ lại là một nghệ thuật tuân theo các tính chất riêng của thể loại này trong đó có yếu tố trời cho làm thơ. Có người cho rằng chỉ cần mới cần lạ cần hay là được không cần gì lý thuyết không cần gì bản sắc dân tộc không cần những giá trị truyền thống. Thế là xuất hiện những câu thơ vụng về khó hiểu thậm chí có hại đánh tráo cảm thụ thẩm mỹ của người đọc.

Người làm thơ có quyền viết bất cứ đề tài nào nhưng khi bài thơ ra đời nó là của xã hội là đối tượng cảm thụ của hàng trăm nghìn thị hiếu khác nhau. Trong thơ ca tài năng gắn liền với sự chân thật. Loại hình nghệ thuật nào cũng cần có sự chân thật và sự chân thật trong nghệ thuật thường là cái được phản ánh sự thật cuộc sống nhưng ở thơ đòi hỏi sự chân thật tối đa. Cái đẹp trong thơ phải gắn liền với đạo đức xã hội. Không có lý tưởng hoặc lý tưởng hời hợt không bắt nguồn từ đời sống quay lưng lại một số phận con người thì mọi tìm kiếm cái đẹp cái mới của nhà thơ trở thành con số không. Có tài cần có học vấn học vấn xin đừng nhầm lẫn với bằng cấp và là thực học thực tài. Người làm thơ cần biết trước biết sau biết trong biết ngoài biết đông biết tây. Có thể có học vấn cao mà thơ không hay nhưng đã có bài thơ hay câu thơ đẹp thì người làm thơ đã có học vấn rồi. “Bản chất của văn chương là tự học vấn mà ra học vấn uyên bác thì viết văn mới hay. Có lẽ đâu văn chương lại làm cho người ta kiêu căng?” (Lê Quý Đôn). Nếu mặt trời tắt nắng nếu trái đất ngừng quay nếu cây không nở hoa nếu tế bào không tự nhân đôi thì phôi thai sẽ chỉ là phôi thai. Trái tim ta chỉ là ý nghĩa vu vơ bởi vì tế bào quá nhỏ. Và ta có thể yêu nhau không. Điều ấy có nghĩa là sự sống rất mơ hồ. Không ai trả lời được không dám trả lời hoặc không dám khẳng định vào cái tất yếu của tự nhiên. Thơ không còn gợi sóng tâm hồn nữa nó không còn là bão là giông với cuộc sống. Mà nó để cuộc đời lặng lẽ bình yên trôi theo thời gian. Mọi ngày như nhau mọi giờ như nhau mọi phút như nhau nhàn nhã đến chán nản và vô vị. Sự rung cảm tinh tế đã chết rồi ! "Nguyễn Du thường sử dụng phong thái thủy mặc trong thơ của mình": "thủy mặc" và "hội họa" là khác nhau. "Thủy mặc" còn có thể thấy trong thơ Nguyễn Khuyến với những bài thơ tả cảnh mùa thu nổi tiếng.

Khi còn yêu thơ nghĩa là khi tâm hồn ta còn nhạy cảm ta có thể cảm thấy cái lành lạnh của hơi xuân. Ta có thể dự cảm trước bước đi rõ rệt của thời gian. Hay đó là một chút "xôn xao" một thoáng nhớ nhung nhưng da diết đến nao lòng của hạ của đông. Nhà thơ Chế Lan Viên đã có sự so sánh rất tài tình "Anh bỗng nhớ em như đông về nhớ rét". Nỗi nhớ ấy tất yếu như quy luật khách quan nó cùng nhau đến và song song tồn tại. Nhận ra một điều chính thơ làm ta cảm nhận làm ta có cái nhìn có cuộc sống phong phú tinh tế sắc nhạy trước thế giới tự nhiên. Thơ phải làm nên nhạc nhạc chính là chất men là dư ba của tâm hồn thi sĩ. Sự đa tài mẫn cảm tinh tế nồng nàn đến choáng váng. Tất cả có thể đi từ có đến không từ nồng nàn đến lạt lẽo từ vĩnh cửu đến hữu hạn từ lãng tử đến thực tế lạnh lùng. Có quan niệm thơ ca bằng phương pháp phản chứng đó là cách làm nổi bật vấn đề vai trò của vấn đề. Cuộc sống sẽ là vô nghĩa nếu ta thiếu tình yêu sự tinh tế lòng nhân ái đối với thế giới xung quanh. Cái yếu đuối của thơ cũng chứa đựng sức mạnh của con người đó là khát vọng. Tình cảm mềm yếu sâu sắc nhưng lý tưởng rõ ràng bền vững. Ta tưởng như đó là sự mâu thuẫn nhưng nó lại hoà quyện bổ sung cho nhau. Đạt được sự cân bằng ấy là đạt được cái chất thơ nhất. Người nghệ sĩ luôn đi tìm cái đẹp trong những khám phá mới. Và độc giả luôn mong tìm thấy cái đẹp trong những bài thơ mới sáng tác của tác giả.

CB



 

More...

HỘI THẢO VN8

By Nguyễn Minh Trí



Chào mừng các ngày lễ lớn của đất nước kỷ niệm 55 năm Ngày giải phóng Hải Phòng; Hướng tới Đại hội Liên hiệp các Hội Văn học nghệ thuật Việt Nam; Hội Liên hiệp VHNT Hải Phòng tổ chức Hội thảo Văn học nghệ thuật lần thứ III với chủ đề Phát hiện và nâng cao chất lượng đào tạo bồi dưỡng các tài năng trẻ trong VHNT theo chương trình hoạt động của nhóm Hội VHNT các tỉnh thành phố phía Bắc gọi tắt là VN8. CB xin có bài viết ghi chép lại chương trình Hội thảo VN8 gửi tới độc giả.

HỘI VĂN HỌC NGHỆ THUẬT 8 TỈNH THÀNH PHỐ PHÍA BẮC
VN8
HỘI THẢO LẦN THỨ III
PHÁT HIỆN VÀ NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG ĐÀO TẠO BỒI DƯỠNG
CÁC TÀI NĂNG TRẺ TRONG VHNT

HẢI PHÒNG NGÀY 9.5.2010

Trong không khí mát mẻ đầu hạ đại diện Hội Văn học Nghệ thuật 8 tỉnh thành phố phía  Bắc đã có mặt tại đất Cảng Hải Phòng để tham dự Hội thảo VN8 với chủ đề "Phát hiện và nâng cao chất lượng đào tạo bồi dưỡng các tài năng trẻ trong VHNT". Đến tham dự Hội thảo VN8 về phía Trung ương Hội có Nhà thơ Bằng Việt Phó Chủ tịch Liên hiệp các Hội VHNT Việt Nam; Nhà văn Tùng Điển Uỷ viên TT Liên hiệp các Hội VHNT Việt Nam; Đại diện lãnh đạo Thành phố Hải Phòng có đồng chí Hoàng Văn Kể Phó Chủ tịch UBND TP Hải Phòng; Cùng đại diện các ban ngành đoàn thể và phóng viên đài báo trong thành phố.

Đại diện 8 Hội VHNT có: Nhạc sĩ Tuấn Khương Chủ tịch Hội VHNT Bắc Giang; Hoạ sĩ Hà Huy Chương Chủ tịch Hội VHNT Hải Dương; Hoạ sĩ Ngọc Dũng Chủ tịch Hội VHNT Phú Thọ;  Nhà thơ Bình Nguyên Chủ tịch Hội VHNT Ninh Bình; Nghệ sĩ Trịnh Trung Thông Chủ tịch Hội VHNT Thái Bình; Nhà lý luận phê bình Trần Đại Tạo Chủ tịch Hội VHNT Sơn La; Nhà văn Hiền Lương Phó CT Hội VHNT Yên Bái; Nhà Biên kịch Điện ảnh Tô Hoàng Vũ Chủ tịch Hội LHVHNT Hải Phòng; Cùng các Văn nghệ sĩ thuộc Hội VHNT 8 tỉnh thành phố phía Bắc.

Phát biểu chúc mừng Hội thảo VN8 đồng chí Hoàng Văn Kể Phó CT UBND TP Hải Phòng đánh giá cao sáng kiến của 8 Hội VHNT tỉnh thành phố phía Bắc. Hy vọng từ hội thảo này sẽ có những giải pháp cụ thể xuất phát từ thực tiễn nhằm phát hiện và nâng cao chất lượng đào tạo bồi dưỡng các tài năng trẻ trong VHNT. Nhà biên kịch điện ảnh Tô Hoàng Vũ Chủ tịch Hội LHVHNT Hải Phòng  đã phát biểu đề dẫn chương trình Hội thảo lần thứ III Hội VHNT 8 tỉnh thành phố phía Bắc VN8 với chủ đề "Phát hiện và nâng cao chất lượng đào tạo bồi dưỡng các tài năng trẻ trong VHNT". Tiếp theo chương trình là các bài tham luận của đại diện các Hội VHNT 8 tỉnh thành phố phía bắc.

Tham luận của hoạ sĩ Tô Ngọc Dũng Chủ tịch Hội VHNT Phú Thọ bày tỏ sự trông mong vào lực lượng kế cận VHNT tỉnh nhà. Bài tham luận khẳng định: tài năng là vốn quý vì thế việc phát hiện nâng đỡ bồi dưỡng tài năng trẻ là hết sức cần thiết; Tham luận của nhà văn Dương Thị Phương Huyền Uỷ viên BCH Hội VHNT Hải Dương cho biết những nỗ lực phát hiện tài năng trẻ trong văn nghệ tỉnh nhà. Sự cần thiết của những đợt vận động sáng tác sự kết hợp với nhà trường trong việc đào tạo các cây viết trẻ; Hoạ sĩ Quang Ngọc Phó CT Hội LH VHNT Hải Phòng có bài tham luận về phát hiện các hoạ sĩ trẻ Hải Phòng. Với thực tế sự phát triển của hoạ sĩ trẻ Hải Phòng những năm qua những phòng tranh xưởng vẽ khá nhiều cần có sự định hướng và quan tâm đúng mức của cấp Hội.

Nhà thơ Nguyễn Long Uỷ viên CH Hội VHNT Thái Bình đã có bài tham luận về việc phát hiện và chăm lo cho các cây bút trẻ. Tập san của Hội luôn dành đất cho các sáng tác trẻ tỉnh nhà; Tham luận của nhà văn Nguyễn Hiền Lương Phó CT Hội VHNT Yên Bái cho biết những kinh nghiệm của Hội trong công tác nhà văn trẻ. Đó là việc mở các cuộc thi sáng tác trẻ tập hợp tác phẩm của các cây bút trẻ in thành một tập riêng. Tạp chí Văn nghệ của Hội phải trở thành một vườn ươm cho tác phẩm của các tác giả trẻ; Nhà thơ Nguyễn Thị Hà Thu Uỷ viên CH Hội VHNT tỉnh Sơn La đã có bài tham luận về về việc định hướng cho các cây bút trẻ tỉnh nhà; Và Hoạ sĩ Hà Huy Chương Chủ tịch Hội VHNT Hải Dương cho rằng cần có con mắt xanh trong việc phát triển các tài năng trẻ. Việc tập hợp các cây viết trẻ thành nhóm bút là rất cần thiết.

Tham luận của nhà văn Ninh Đức Hậu Uỷ viên CH Hội VHNT Ninh Bình cho thấy những kinh nghiệm của Ninh Bình. Đó là ban văn nghệ trẻ thường xuyên tổ chức trại sáng tác trẻ một năm có từ 15- 20 ngày. Tổ chức các cuộc thi sáng tác trẻ để phát hiện các cây bút mới. Nhạc sĩ Tuấn Khương Chủ tịch Hội VHNT Bắc Giang khẳng định phát hiện hội viên trẻ là sự quan tâm của Hội hiện nay. Việc tạo ra nguồn cũng rất cần thiết từ hoạt động hội từ các cuộc vận động sáng tác. Kiến trúc sư Minh Trí Uỷ viên Thường vụ Hội LH VHNT Hải Phòng có bài tham luận về đầu ra của đào tạo và việc quy tụ các kiến trúc sư trẻ trong các tỉnh thành phố. Việc trang bị kiến thức lý luận và sự quan tâm của cấp Hội đến các CLB và các văn nghệ sĩ trẻ trong giai đoạn này là quý gía và cần thiết.

Phát biểu kết thúc Hội thảo VN8 Nhà thơ Bằng Việt Phó Chủ tịch Liên Hiệp các Hội Văn học Nghệ thuật Việt Nam đánh gía cao kết quả thu được từ hội thảo "Phát hiện và nâng cao chất lượng đào tạo bồi dưỡng các tài năng trẻ trong VHNT" của 8 Hội VHNT phía Bắc tổ chức tại Hải Phòng dịp này. Với những nhìn nhận trực tiếp cụ thể trong công tác Hội hiện nay. Việc tuyên truyền phát động các cuộc sáng tác việc tạo nguồn để tìm ra các tài năng trẻ trong Văn học Nghệ thuật là hết sức đúng đắn. Qua hội thảo này lãnh đạo Hội các tỉnh cần có chế tài và những đề án hoạt động hội khả thi trong công tác phát hiện bồi dưỡng tài năng trẻ của tỉnh thành phố.

CB

More...

KIẾN TRÚC SƯ TRẺ

By Nguyễn Minh Trí



Bất cứ một quốc gia nào cũng có một nền kiến trúc riêng. Kiến trúc là một nghệ thuật tổ chức không gian sống cho con người vừa là văn hoá nghệ thuật vừa là khoa học kỹ thuật. Trong đội ngũ kiến trúc sư hành nghề kiến trúc lực lượng kiến trúc sư trẻ là con số đáng kể (chiếm 70% lực lượng KTS toàn quốc) các kiến trúc sư trẻ chính là nguồn lực của tương lai. Vì thế việc phát hiện và nâng cao chất lượng đào tạo bồi dưỡng các tài năng trẻ trong văn học nghệ thuật trong đó có các kiến trúc sư trẻ là câu chuyện thật đáng để tâm trong giai đoạn phát triển này. CB xin có một bài viết bàn về vấn đề trên.

KIẾN TRÚC SƯ TRẺ
NHỮNG THÁCH THỨC TRƯỚC VẬN HỘI MỚI

Kiến trúc sư là một nghề góp phần đáng kể trong việc tạo dựng diện mạo đất nước ngày một khang trang hiện đại. Bản thân các kiến trúc sư vừa là một nhà khoa học vừa là một nghệ sĩ vì thế Hội Kiến trúc sư là một thành viên thuộc Hội Liên hiệp Văn học Nghệ thuật. Từ sau năm 2000 đó là giai đoạn tăng tốc của kinh tế Việt Nam giới Kiến trúc sư đã cảm nhận về sức ép và thách thức trong hội nhập.  Quá trình quốc tế hoá hoạt động kiến trúc ngay trong tỉnh thành phố khiến cho giới kiến trúc sư phải họp bàn để tìm ra giải pháp tồn tại trong quá trình cạnh tranh. Trong câu chuyện này lực lượng chính và kỳ vọng nhất của nền kiến trúc nước nhà là đội ngũ kiến trúc sư trẻ. Các kiến trúc sư trẻ chính là nguồn lực của tương lai. Vậy các kiến trúc sư trẻ đang nghĩ gì đang làm gì và chuẩn bị ra sao khi đứng trước vận hội lớn của đất nước. Vì thế việc phát hiện và nâng cao chất lượng đào tạo bồi dưỡng các tài năng trẻ trong văn học nghệ thuật với ngành kiến trúc và dành cho kiến trúc sư trẻ trong thời điểm này là vô cùng thích hợp.

Mỗi năm với 16 cơ sở đào tạo kiến trúc sư trong toàn quốc và một số lượng nhỏ đào tạo ở nước ngoài chúng ta có trên 1.000 kiến trúc sư tốt nghiệp đại học ra trường. Một phần lớn trong số đó làm việc ở hai thành phố Hà Nội thành phố Hồ Chí Minh còn lại về các tỉnh. Như ở Hải Phòng mỗi năm có khoảng thêm 30 kiến trúc sư trẻ. Hiện nay nước ta có khoảng 1 2 KTS/10.000 dân một tỉ lệ không phải là quá thấp so với một số quốc gia phát triển khác như Đức (8 KTS/10.000 dân) Pháp (4 KTS/10.000 dân) Anh (5 KTS/10.000 dân) và Tây Ban Nha (5 KTS/10.000 dân).  Tuy nhiên chất lượng kiến trúc sư trẻ hiện nay ở Việt Nam vẫn còn nhiều vấn đề đặt ra thậm chí nhiều người còn đặt câu hỏi là: Bao nhiêu phần trăm trong hàng ngàn sinh viên kiến trúc ra trường mỗi năm là kiến trúc sư thực thụ. Theo quy chế đào tạo và cấp chứng chỉ hành nghề như hiện nay thì phần lớn sinh viên chuyên ngành kiến trúc của các trường Đại học sau khi tốt nghiệp ra trường đều trở thành kiến trúc sư.

Nhưng đánh giá về chất lượng của đội ngũ này có những điểm đáng lưu ý: Thiếu kiến trúc sư giỏi có đẳng cấp quốc tế; Có khoảng 30% số kiến trúc sư trẻ là có khả năng sáng tác làm chủ nhiệm đồ án; Về năng lực nghề nghiệp: loại giỏi (25%) khá (40%) trung bình (30%) và kém (5%); Trình độ ngoại ngữ tin học chưa cao... Từ những con số khá cụ thể nêu trên chúng ta sẽ không khỏi thắc mắc là tại sao đào tạo nhiều kiến trúc sư như vậy nhưng rồi chỉ có khoảng 30% kiến trúc sư trẻ là có khả năng sáng tác và làm chủ nhiệm đồ án.

Kiến trúc là một ngành đặc thù cần đến sự kết hợp khăng khít giữa kỹ thuật và nghệ thuật trong đó kỹ năng tư duy logic khoa học và các kiến thức kỹ thuật là cực kỳ quan trọng. Các kiến trúc sư trẻ nói chung rất nhanh nhạy với các nguồn thông tin chịu khó tìm tòi các công trình. Nhưng nếu không được chuẩn bị kỹ lưỡng về mặt lý luận mặt tư duy thì kiến trúc sư trẻ quan niệm phải làm sao thể hiện được ý tưởng của mình một cách mỹ thuật nhất bắt mắt nhất với những thủ pháp nghệ thuật mà không chú trọng đến cái cốt lõi đằng sau mỗi công trình. Các kiến trúc sư trẻ năng động sáng tạo và không hề thua về kỹ năng nhưng tại sao vẫn chưa có những công trình ấn tượng. Nghề kiến trúc có đặc điểm là lấy sức mạnh tập thể quan trọng hàng đầu. Và đó cũng chính là nguyên nhân để việc đơn độc manh mún thất bại khi gặp phải công trình lớn. Chúng ta tạo ra sân chơi để cho người bên ngoài giành chiến thắng và chúng ta thua cuộc trên sân chơi do chính mình đã tạo ra.

Trong những năm qua Hội đã có nhiều nỗ lực trong việc phong phú hoá các hoạt động phục vụ hội viên từ hoạt động chuyên môn đến phong trào. Câu lạc bộ Kiến trúc trẻ Hải Phòng với hơn 100 hội viên đã tổ chức thường xuyên các buổi sinh hoạt nghề nghiệp các lớp đào tạo đi điền dã thực tế; Tổ chức triển lãm trưng bày tác phẩm của các kiến trúc sư trẻ; Tham gia các cuộc thi kiến trúc trong nước và quốc tế; Tham gia các chương trình tư vấn thiết kế ứng dụng vật liệu mới trong xây dựng; Tham gia các hội thảo hội trại cùng các Câu lạc bộ Kiến trúc sư trẻ trên toàn quốc... Tuy nhiên những hoạt động đó dường như mới chỉ dừng lại ở mức tinh thần vui chơi giao lưu bề rộng chưa tạo dẫn đường đi nghề nghiệp một cách có định hướng.

Để phát hiện và nâng cao chất lượng đào tạo bồi dưỡng các tài năng trẻ trong văn học nghệ thuật với ngành kiến trúc cần động viên khơi gợi đam mê sáng tạo trong các kiến trúc sư trẻ. Các kiến trúc sư trẻ sẽ có được nhiều cơ hội trưởng thành và phát triển nhằm thay đổi vị trí của mình trong tương lai vấn đề là cần có một sự thay đổi đồng bộ và thực chất. Cần có sự bắt tay hợp sức để tạo ra một lực đủ mạnh tập hợp lực lượng để có thể chiến thắng trên sân nhà đồng thời các kiến trúc sư trẻ cần tự xây dựng "tầm" cho chính mình bằng việc thể hiện trách nhiệm trước mỗi đồ án mình tạo ra. Mỗi kiến trúc sư trẻ cần chuẩn bị hành trang về mọi mặt cho chính mình trước yêu cầu mới sẵn sàng tham gia đồ án tầm khu vực và quốc tế. Các câu lạc bộ kiến trúc sư ở các tỉnh thành phố cần bắt tay hợp lực với các nhóm kiến trúc sư địa phương tạo ra một lực lượng đủ mạnh để tuyển chọn và chiêu mộ người tài.

Vai trò của Hội là sự định hướng sáng tác và dẫn dắt về tư tưởng; Nâng cao vai trò lý luận phê bình nghệ thuật trong việc đánh giá tác phẩm; Giáo dục đạo đức nghề nghiệp trách nhiệm cộng đồng; Định hướng tổ chức nghiệp đoàn kiến trúc; Tăng cường hợp tác quốc tế. Chúng ta có thể có những đồ án tốt những ý tưởng đột phá sáng tạo nhưng những tác phẩm đó có thể đang bị bỏ sót; Và sự quan tâm đúng lúc kịp thời của cấp Hội sẽ phát hiện được những tài năng thực thụ; Giúp cho hội viên trẻ có điều kiện phát triển và đóng góp nhiệt huyết cũng như sức trẻ của mình cho sáng tạo nghệ thuật.

CB

More...

NHỮNG BÀI THƠ KANJI

By Nguyễn Minh Trí



ĐỌC NHỮNG BÀI THƠ KANJI CỦA KHÁNH PHƯƠNG

Bão Vũ

Tôi đã thấy một nhà thơ khá cao tuổi vẫn mê mải chọn lối riêng cho mình trên vệt đường thơ dằng dặc nhọc nhằn hỗn độn những vết chân tìm kiếm. Tôi đã đọc khá nhiều những thể nghiệm của ông về vần điệu câu chữ ý tứ và hình thức biểu hiện. Có lần tôi thấy ông viết một loạt thơ mỗi bài chỉ có 2 câu 2 dòng và đặt tên là thơ Haikâu. Ý ông gọi đó là thơ "2 câu" (nhị cú) nhưng rõ ràng ông mượn tên loại thơ Haiku của Nhật khi viết "k" thay cho "c" đồng thời ông cũng đánh đồng âm "u" với "âu" như các cụ của chúng ta xưa đã làm trong thơ. Tôi tự hỏi nếu thích cái tên Haiku đến thế sao ông không đặt là thơ Haiku Việt và tuân thủ một phần quy định của âm tiết dùng cho loại thơ đó của Nhật (Một bài Haiku có 3 câu với số âm tiết 5 / 7 / 5) như cách người mình làm thơ Đường luật. Nhưng đó là sở thích  và cách làm của ông một nhà thơ đáng kính suốt một đời nhọc nhằn vì thơ.

Giữ ấn tượng khá sâu về Nhà thơ Haikâu ấy nên tôi đã rất chú ý khi thấy những bài thơ nhan đề Kanji của Khánh Phương.

Kanji
? Thoạt nghe ngỡ tên một thể loại thơ Nhật như Haiku nói trên hay Tanka một loại đoản ca. Nhưng rồi tĩnh tâm đọc kỹ mới biết đó chỉ là "Hán tự" theo phiên âm tiếng Nhật tiếng Bắc Kinh là Hanzi. Cũng có thể coi như một phát kiến thú vị khi mà miền đất Thơ đã bị cày xới đến nát tươm với đủ thứ hạt tạp chủng được vung vãi.

Được biết cho đến lúc này Khánh Phương đã công bố 5 bài Kanji tất cả cùng một điệu thức như một dụng ý. Có vẻ Khánh Phương đang muốn tạo ra lối thơ đặc trưng để viết về một quốc đảo đặc sắc gần gũi từ lâu có ảnh hưởng nhiều mặt tới chúng ta đặc biệt về văn chương. Lối sống tinh tế với những tiện nghi kỹ thuật Nhật bản đang thịnh hành trong đời sống của xã hội chúng ta.

Nhật Bản theo như khá nhiều bút ký báo chí và truyền hình là một quốc gia với những đô thị có mật độ dân cư dày đặc nhịp sống hối hả cường độ lao động rất cao với những phát minh khoa học không ngừng nghỉ. Nhìn đâu cũng thấy sắt thép công nghệ higt-tech và các thế hệ robot tiếp nối. Đường phố đầy người và bầu trời đầy khói. Người ta không có cả thì giờ dù chỉ để đưa mắt ra ngoài cửa sổ nhìn một nhánh hoa anh đào hay vệt tuyết đọng muộn trên đỉnh Phú Sĩ. Những doanh nhân trẻ mắt dại đờ sau cặp kính cận dày cộp làm việc ngay trên ghế băng tàu điện ngầm vừa bấm laptop vừa nhai bánh kẹp thịt nguội và tu nước khoáng để rồi dù thành đạt sớm nhưng đã bị stress đến vô phương cứu chữa bị yểu tử ở tuổi trung bình 40. Những mô tả cực đoan ấy chỉ để nói một điều: Thế nên họ mới giàu. Nếu như thế thì đâu là chỗ cho thi ca. Và chả lẽ giàu như vậy chỉ để stress và yểu tử?

Trong những bài Kanji của Khánh Phương ta cũng thấy một nước Nhật hiện đại với những Shinkansen loại tàu điện đặc trưng ra đời từ 1964 tiện nghi an toàn tốc độ nhanh chỉ sau máy bay một trong những biểu tượng của công nghiệp hiện đại Nhật bản. Ta cũng thấy ma túy...suy thoái kinh tế... Những thương thuyền lớp lớp dàn hàng trên biển... Nhưng lại thấy có những ô kính trồng hoa mướt xanh... vạt áo thêu hoa phù dung chiều qua... hồng rực sững sờ những trời anh đào nở...

Tất cả như những mảng ghép như sự phối sắc giữa rực rỡ và xám tối theo quốc họa phương Đông như những mảnh sứ mỏng nhẹ có thể thổi bay như giấy loại Japan porcelain đặc trưng ánh sáng có thể xuyên qua... Những nhận xét này chủ yếu dựa vào bài Kanji thứ nhất vì theo tôi bài đầu tiên ấy Khánh Phương đã viết từ một khoảnh khắc thần cảm như vệt sáng rọi thấu lớp porcelain ấy mà nhận ra linh hồn của ngôn ngữ Nhật qua Kanji.

Udon nhớ bỏ thêm nhiều gia vị vì cha tôi tương đối kỹ tính trong miếng ăn
Sớm nay có diễn thuyết ngoài phố tất cả học sinh trung học nghỉ
Phấn trang điểm của tôi chiếm trọn ngọc ngà bộ mễ

Những câu thơ rời rạc không ăn nhập với nhau theo lối étude - bài tập những mẫu câu khô khan thô lược nhưng ngẫm nghĩ lại thấy hàm súc tính cách Nhật khiến người am hiểu văn hóa Nhật sẽ nghĩ đến lối bài trí vườn cảnh kiểu Karesansui loại vườn cảnh kết cấu bằng đá và cát (không hoa không cây không mặt nước). Khu vườn Ryouanji nổi tiếng ở cố đô Kyoto thế kỷ 15 chỉ gồm những tảng đá bố cục rời rạc trên mặt sân rải cát khô có vạch những vòng sóng.

Học Nhật ngữ ta còn biết đến món mỳ Udon - hương vị Nhật đặc biệt quyến rũ với các gia vị: Bột gừng hạt vừng rong biển khô hành mù tạt ...(như lời quảng cáo của một cửa hàng mỳ Udon ở Hà Nội)

Phấn trang điểm của tôi chiếm trọn ngọc ngà bộ mễ...
"Mễ" trong tiếng Hán là gạo lương thực (gạo - ngọc ngà). Bộ Mễ có trong khá nhiều chữ liên quan đến phái đẹp: Phấn (mỹ phẩm); Lạp (nến - trắng trong) Túy (trong sạch trinh tiết); Tao khang ( nghĩa vợ chồng); Lệ (nước mắt) ... Cái Đẹp hàm chứa sự quý giá hấp dẫn hạnh phúc và cả nỗi khổ đau bất hạnh.

Hán tự đóng vai trò phần hồn của Nhật ngữ. Hầu hết Danh từ và căn tố của Tính từ Động từ trong tiếng Nhật đều xuất thân từ tiếng Hán gọi là Kanji nên đã có lời khuyên trước khi học tiếng Nhật hãy học tiếng Hán sẽ tiếp nhận tiếng Nhật nhanh chóng và hiệu quả. Nghiên cứu người ta thấy có mối liên hệ từ Kanji với ngôn ngữ Hán - Việt. Vì chữ viết của dân Việt xưa chữ Nôm cũng xuất phát từ tiếng Hán.

Dì Oii mi hẹn mùa hè tới thăm tôi mong
Điền nốt vào bài trắc nghiệm câu hỏi về ma túy này khó
Vạt áo tôi thêu nhiều hoa phù dung chiều qua
Khi Hajime ngước lên sống mũi cậu ta chạm vào đó

Hajime
(Saito Hajime) là tên một nhân vật lịch sử thời Mạc Phủ. Trong những tác phẩm văn học và truyện tranh hiện đại nhân vật này được mô tả như một người hùng một kiếm sĩ có những tuyệt chiêu. Đem tên nhân vật này đặt cho một thanh niên hiện đại bất kỳ cũng là cách học Nhật ngữ mang công dụng kép.
Tưởng như lạnh lùng lý trí tính công nghiệp cao mà lại hồn nhiên tươi sáng ngây ngây vì bài thơ như gồm những mẫu câu dành cho học lớp Nhật ngữ đầu tiên được dịch ra tiếng Việt. Và cũng mang mang cái phong vị phương Đông cổ điển. 
Những câu cuối của bài thơ:

Tò mò tôi xem In the Realm of the  senses
Chiến tranh
Đố ai cấm được hồng rực sững sờ những trời anh đào nở

In the Realm of the senses ( Trong miền giác quan )
là bộ phim nổi tiếng của đạo diễn Nhật Nagisa Oshima đã đoạt giải thưởng Cannes 1976. Viết như Khánh Phương người chưa xem phim đó sẽ nghĩ là một bộ phim về chiến tranh và cho rằng cô muốn dùng khung cảnh thanh bình với những bận rộn thường nhật hiện tại để tương phản với chiến tranh khốc liệt trong quá khứ mà nước Nhật đã hứng chịu. Nếu đúng như vậy thì bình thường và cũ kỹ. Nhưng đâu phải vậy. In the Realm of the senses là một phim sex như cách nói bây giờ; một phim về tình yêu cuồng nhiệt ở thời bình. Những câu thơ ấy như những suy tưởng bâng quơ của cô nữ sinh đang học tiếng Nhật tò mò tìm xem bộ phim cấm của Nhật cô nhận ra hấp lực ghê gớm của tình dục trong tình yêu. Mãnh lực ấy bất chấp mọi cản phá dù là giáo lý những lề luật và kể cả chiến tranh nữa. "Chiến tranh" không có trong bộ phim chỉ là sự suy tưởng bất chợt.

Đố ai cấm được hồng rực sững sờ những trời anh đào nở
Tinh thần Thiền đặc trưng Nhật bản đã ngự ở câu kết ấy như sự điều hòa sau những câu thơ mang  ý nghĩa và hình thức hiện đại.

Người ta vẫn cho rằng Thơ phát xuất từ xúc động tự nhiên tức thời và cảm thụ thơ cũng là để tìm cảm khoái cho tâm hồn một cách tự nhiên đâu cần phải vất vả đến thế khi đọc một bài thơ. Tôi nghĩ đó là cách làm thơ và đọc thơ ngày xưa. Dĩ nhiên bây giờ nếu còn cần đến "thơ ngày xưa" thì cách làm và đọc thơ ấy vẫn như xưa thôi. Thơ đương đại ngoài những thành tố căn bản ấy với một tỷ lệ thích hợp thì điều quan trọng là phải cần đến tri thức hiện đại và sự mẫn tuệ khoa học ở cả thi sĩ và độc giả thơ giống như vẽ và xem tranh trừu tượng vậy. Một số nước phát triển có trường học cho các nhà văn nhà thơ tương lai. Ở đó người ta dạy phương pháp quan sát sự vật rồi biểu đạt bằng ngôn ngữ. Học viên phải biết nhìn ra cái không biểu hiện trên bề mặt của sự vật và không được viết về cái anh ta thấy mà là anh cảm được của sự vật. Vì họ bảo đây không phải là trường dạy những viên thư lại chuyên lập biên bản tường trình sự việc. Nếu giấc mơ văn chương bất thành thì anh chàng học viên đó cũng trở thành một độc giả có bằng chuyên môn về khoa học đọc!

Khánh Phương là một nhà báo sắc sảo tinh tế trong những bài bình luận văn chương. Cô biết tạo ra sự khác biệt của riêng mình khi đặt câu hỏi cho những bài phỏng vấn. Cô không dùng những mẫu câu mòn vẹt đã tồn tại từ rất lâu nay. Cô nhìn ra những đặc biệt khó nhận thấy ở nhân vật trong những bài viết về chân dung. Cũng như vậy trong thơ Khánh Phương đã tìm ra cách để không nhòa lẫn vào bạt ngàn cư dân đông đúc của vương quốc Thi ca hiện tại. Cô đã tạo ra hình thức riêng trong những bài Kanji.

Tôi chỉ có một thoáng gợn khi đọc hai bài Kanji 4 và 5: Giá như hai bài ấy vẫn giữ được điệu thức thống nhất với 3 bài trên để hình thành một thể thơ thì dụng ý của tác giả sẽ được nhận ra rõ hơn. Hai bài cuối đã được trình bày  thành từng đoạn thơ văn xuôi mang nghĩa triết luận với từ ngữ ngân nga theo lối R. Tagore nên có phần dị biệt trong một tổng thể đồng nhất. Có thể Khánh Phương đã dùng thuật biến đổi khúc thức như trong âm nhạc? Nếu thế cần nghiên cứu kỹ hơn về khúc thức.

Sự tìm kiếm của Khánh Phương rất đáng tán thưởng. Rất có thể sau đây khi nhắc đến tên Khánh Phương người ta sẽ nói thêm: đó là tác giả của những bài Kanji.

VB


Chùm thơ Kan-ji của Khánh Phương

Kan-ji 1

Tôi được học viết chữ Hán thật vuông
Những ô kính trồng hoa mướt xanh chạy dài nét móc
Udon nhớ bỏ thêm nhiều gia vị vì cha tôi kỹ tính trong miếng ăn
Sớm nay có diễn thuyết ngoài phố tất cả học sinh trung học nghỉ
Phấn trang điểm của tôi chiếm trọn ngọc ngà bộ mễ
Shinkansen rẽ ngoặt theo sườn dốc tôi thấy mặt biển dâng
Dì Oii mi hẹn mùa hè tới thăm tôi mong
Điền nốt vào bài trắc nghiệm câu hỏi về ma tuý này khó
Vạt áo tôi thêu nhiều hoa phù dung chiều qua
Khi Hajime ngước nhìn lên sống mũi cậu ta chạm vào đó
Chẳng vì suy thoái kinh tế mà công viên Haruno Hana đóng cửa
Những đội thương thuyền dàn hàng là biểu tượng của tình yêu tổ quốc
Tò mò tôi xem In the Realm of the Senses
Chiến tranh
Đố ai cấm được hồng rực sững sờ những trời anh đào nở
------------
Kan-ji: Hán tự (phiên âm tiếng Việt).
In the Realm of the Senses: phim của đạo diễn Nhật Oshima Nagisa


Kan-ji 2

Ừ thì cá ngừ xa biển không vì món Sushi kể cả tàu săn cá voi
Váy tôi quá ngắn mà đùi quá dài đố ai viết thêm chữ khẩu
Cột khói hình nấm sáu mươi ba năm trước không riêng gì nước Nhật
Tiệm bánh ở những Tabeno Machi khó khăn giữ chữ tín đôi khi sơ suất
Gió từ vịnh Hokkaido thổi tung những tấm rèm nhà hát Takarazuka
Chính trường sạch bong vì gió cuốn cả những trang Asahi Shimbun xuống biển
Rập rờn trên sóng những con tàu bị hút về phía mặt trời
Ém nhẹm trong nách áo kimono nước Nhật toả sáng trên bàn điểm tâm buổi sớm
Mực đen lánh chữ rất thơm xoá hết lối đi
Cây bồ đề rụng một trăm chiếc lá hoa cúc một ngàn cánh
Tuyết trên đỉnh Fuji không tan thành kem McDonald s
Tôi vô tình sửng sốt dưới trăng và bầu trời ân ái
- Takeshi khi tớ bước đi hai tay vung vẩy cậu có nhìn không?
- Tớ thấy cậu biến vào căn phòng kín mít để con chó con đứng lại ở bên ngoài.
------------
Kan-ji: Hán tự ( phiên âm tiếng Việt)
Guchi:
khẩu ( phiên âm tiếng Việt)
Shinjiru:
tín ( phiên âm tiếng Việt )
Tabeno Machi:
phố ẩm thực
Tokyo Takarazuka Theatre: Nhà hát chuyên về hài kịch thời cuộc ở Tokyo

Kan-ji 3

Bóng tối từ truyện Genji phá bung giới hạn những căn phòng
Gọi anh từ nửa bên kia thế giới
Ư mi.......... Ư mi..........
hàng vạn đoá san hô trồi lên chữ hải
Tôi đứng trên chiếu nghỉ băng chuyền di động phương thẳng đứng
Dợm bước xuống tôi phải vòng vèo chập choạng đi về phía bên kia
Tất sợi dài mì Ý giấy A-0 vẽ đồ án giảm giá cực lớn
Những con lăn nhẫn nại xảo quyệt lăn lăn
Mà ngoài kia anh đào anh đào chín đỏ rực kinh hãi
Nước Hiroshi đổ đầy vào chiếc xô màu đỏ vô tình xách đi chạm phải anh giạt xuống tung toé
Gió lùa đầy hai mái tóc
Đừng giữ tôi ngồi trước màn hình những con chữ chồng chéo hỗn loạn
Ông già Taka ngoài vườn gạt xẻng đất cuối cùng
Âm thanh giữa chừng bài hát Patricia Kass vừa rụng
Tôi đứng lên
Nước Nhật chia làm hai nửa
Giấu bên này chữ bi
Những đợt sóng hừng lên đập cửa
Ư mi.......... Ư mi..........
----------
Genji: truyện ma của Nhật Bản
Umi:
hải (chữ Hán)
Man:
vạn (chữ Hán)
Sabishi:
bi (chữ Hán)

Kan-ji 4

Chiếu tatami đã trải nếu chàng đồng ý em múa kagura nhịp mê hoặc không dứt làn khói mỏng vờ mơn man những dấu chân trên sàn dần tan biến.
Chàng thuận tình em nâng samisen cung trầm mặc biển lá rụng mênh mông trong gió miệt mài đôi cánh hạc những nếp gấp hút cạn hết mê đắm trải hững hờ trên giấy tiếng chuông gió điểm thinh không.
Đây chén trà thơm em rót mời chàng sake hãy để sớm mai ngọn khói mờ quyện mong manh vị chát ngọt váng vất làn môi mềm mại chàng hài lòng mười tám chữ em viết ráng chiều trên giấy bạch.
Nệm futon đã trải dép geta xếp ngay ngắn chàng nói không em biến mất vào ánh trăng vằng vặc ngoài vườn lạc tiên chín rực xô bật tấm cửa ngăn không làm gì có chuyện chàng mặc lòng tự nguyện sinh ra để được giam giữ mãi dưới không gian phù phép đẫm hương để chết cho đam mê làn khói quyện quanh siết chặt không dứt những bước đi vô hình mê mải khói ngọt lịm cho đến khi chàng tan biến rồi tan biến cả dấu nằm trên nệm.
Hương lạc tiên đọng đầy những khoảng trống liên tiếp.
Những dây samisen nuốt hết vận mệnh tiếng trầm khàn đặc lựa chọn em rồi chàng trò chơi khởi động độc ác cực đoan tuyệt đỉnh thách thức chối từ êm thấm thông thường nhàn nhạt trò chơi mười tám chữ khoá chặt vũ trụ gian phòng nhỏ cho đến khi êm thấm nhàn nhạt tự loại trừ.
Mây cuốn những tấm rèm phủ suốt tầng lầu xuống mặt đất sắc sơn trà hồng rực ùa vào những căn phòng dìu dặt khói nước Nhật có bao giờ phải đỏ mặt vì Geisha...
---------
Kagura: múa truyền thống Nhật Bản xuất xứ từ một phần của nghi lễ Shinto (Thần đạo) phổ biến khắp nước Nhật.


Kan-ji 5

Ghép lên tường bông bụt đỏ chói biển cả lấp đường chân trời xanh những con sóng bất động đẩy quầng nắng lên cao tít sao em phải mượn điều đã ngừng im đã tắt đột ngột để buông thả một tình yêu đặt xuống thản nhiên người đi đường lượt lượt giẫm lên một tình yêu dần choáng hết máu trong động mạch em cho đến chết tàu cao tốc khởi hành lúc hai giờ.
Thong thả cuộn sau ống tay áo rộng chếnh choáng mơ hồ phủ đầy vườn thiền chạy dọc dẫy nhà hai tầng cũ kỹ đan xen bóng lá nỗi rạo rực vừa nhen.
Trên Shinkansen không ai ngủ một người đàn ông đứng tuổi tóc thưa môi trề đeo kính gọng nhựa chốc chốc lại ngóng ra cửa sổ vẻ nóng ruột bâng quơ môi niệm câu thần chú đàn chim dang cánh bốc lên trời cao cột khói trắng đuổi bắt ánh bình minh những tiếng đập cánh mở lòng sâu thẳm tôi bỏ áo choàng tắm trong căn bếp bề bộn những đồ vật trong suốt những bữa ăn dang dở nắng xuyên qua cửa kính soi vào khoảng không giữa muôn ngàn đồ vật dưới làn da tôi trong suốt những mạch máu bất chợt hồng lên.
Chuyển động của con tàu đem theo hàng ngàn ga xép không kịp hoá gió đập vào muôn ngàn toà nhà đại lộ vườn cây cánh đồng vùn vụt hiện về hoá thành trong suốt người đàn ông tóc thưa môi trề hoá ra đã xuống từ ga trước tôi giật mình nhận ra sao nét người gần gũi sâu sắc quá như thể người ruột thịt?
Tôi bỏ lại chiếc áo choàng tắm trong gian bếp không ai độc quyền được tình yêu không gì an ủi được tình yêu không gì cứu vãn được tình yêu tôi cảm thấy rõ nhất điều này khi ngồi trên tàu cao tốc lao vùn vụt tới những toà nhà đại lộ vườn cây đồ vật trong suốt tổ quốc tôi trong suốt như tấm gương như nước mắt liệu tôi có tới được...
... Không rõ Saeki có ra đón ở ga Tokyo sợ trời sẽ mưa...

KP

(Bài do nhà thơ Trần Quốc Minh gửi đến cho Cát Biển)

More...

Một hồn thơ khát khao mê đắm

By Nguyễn Minh Trí



Một hồn thơ khát khao mê đắm

Bùi Việt Vương

Tôi biết từ những năm mười hai mười ba tuổi Kim Chuông đã có thơ in trên báo của tỉnh Kiến An cũ. Kim Chuông người làng Thắng Vĩnh Bảo Hải Phòng. Cụ Đồ Vọng thân sinh nhà thơ một nhà Nho từng bốn mươi năm mở trường dạy học ở đất làng giáo huấn thi thư cho nhiều lứa học trò. Với năng khiếu bẩm sinh cùng cái nền được sinh ra và lớn lên ở gia đình mà hai bên nội ngoại đều là bậc nho học khả kính. Khi còn là học sinh ngồi trên ghế nhà trường Kim Chuông đã mê say văn chương và nổi tiếng về những bài thơ in báo những vở chèo ngắn được các đội văn nghệ dàn dựng.
Những năm đầu của cuộc kháng chiến chống Mỹ Kim Chuông sớm trở thành người lính khi tuổi đời còn rất trẻ. Kim Chuông được Nhà văn Lê Lựu người anh kết nghĩa người dìu dắt trở thành phóng viên của tờ báo Quân khu rồi giới thiệu về công tác tại Hội Văn học Nghệ thuật Thái Bình để từ đó qua cuộc hành trình "mình đi tìm chính mình" bằng nội lực với tháng năm trải nghiệm bằng tài năng phát lộ qua lao động sáng tạo nghệ thuật của mình Kim Chuông đã trở thành một nhà văn chững chạc trong đội ngũ nhà văn của đất nước đang sống và làm việc ở một vùng đất.
Kim Chuông kể có lẽ bắt đầu từ người cha mê đọc Kinh Thi mê đọc truyện Kiều và sáng tác thơ Đường ngay từ nhỏ được tiếp cận với thơ cổ và những trang Kinh Phật Kim Chuông đã có hàng trăm bài thơ đẻ ra từ ngẫu hứng. Bằng cách đọc sách và thuộc sách của những người từng học chữ Thánh hiền với lối kể chuyện hấp dẫn có duyên người nghe từng bị cuốn hút khi Kim Chuông nói về "tứ đề bốn pháp ấn" những vô tạo giả vô ngã vô thường... của Đạo Phật. Những "Nhân - nghĩa - lễ - trí - tín" của Đạo Khổng. Những lục nghĩa "phong nhã tụng và phú tỷ hứng" của Kinh Thi. Những thể cách phẩm cách những duy cảm duy linh duy lý của thi pháp thơ Đường... Kim Chuông có gương mặt đẹp. Nét miệng rộng nụ cười hiền và ánh mắt mơ mộng. Vẻ thi sĩ toát lên ở anh từ mái tóc dáng đi cái nhìn giọng nói nhất là giọng đọc thơ dễ mê đắm lòng người. Sinh ra từ gia đình Nho giáo Kim Chuông ham học và có kiến thức sâu. Anh luôn giữ gìn và đề cao đạo đức truyền thống. Kim Chuông có hiếu với bố mẹ anh chị em trong gia đình. Có nghĩa có tình với anh em bầu bạn. Là bạn lính người "đồng thanh tương khí" với Kim Chuông tôi mê và thuộc khá nhiều thơ anh. Nhiều lúc tôi thường ngân lên câu thơ anh viết làm khúc hát lòng mình.
Tôi biết gia đình Kim Chuông rất nho nhã lịch thiệp. Đây là nét đẹp văn hoá của đạo đức lối sống gia đình mà tôi thường ngước soi và mơ ước. Người chị cả của Kim Chuông đã hơn tám chục tuổi đầu nhiều lần nói với tôi rằng: "Cậu ấy (tức Kim Chuông) thật hiền lành đạo đức. Chính cậu ấy đã làm được nút buộc tình cảm đẹp đẽ cho mọi người ở cái nhà này". Quả tình không phải chỉ anh em ruột thịt Kim Chuông sống chân thành hết lòng với bạn. Anh có những bạn trai không khác gì những "người tình say đắm". Kim Chuông sống khiêm nhường ít nói. Trong trò chuyện giao tiếp Kim Chuông có tài đốt lửa truyền sang người khác cái men say từ những điều tâm huyết của lòng mình. Nhìn anh mịn màng trong sáng bạn bè thường gần gũi trân trọng và quý mến anh nhiều.
Vào đầu thập kỷ bảy mươi của thế kỷ trước Kim Chuông thường xuyên xuất hiện trên mục "Thơ bộ đội". Bài thơ "Đêm chiến trường chính trị viên viết bài thơ chiến sĩ" in 1/2 trang báo Nhân Dân khổ lớn được nhà thơ Hoàng Trung Thông viết lời ca ngợi. Rồi bài thơ "Ta mang đi những điều ta gửi lại" hoặc "Rất nhiều cuộc đời đã sống cho tôi" hoặc "Khi mà tôi đã khác"... Những bài thơ này ở chặng đường đầu sáng tác cũng như nhiều tác giả thơ Kim Chuông ôm chứa không gian rộng. Cái ngổn ngang bề bộn của cuộc sống bên ngoài làm nên nét trội. Nhưng không dừng lại ở việc mô tả phản ánh bề mặt Kim Chuông đã tìm cho thơ mình một cách nói riêng cách nhìn nhận cắt nghĩa sự vật mang chiều sâu của trí tuệ. Có lẽ từ những trang Nho học chất triết lý đã thấm nhiễm vào anh để rồi những câu thơ hơi nghiêng về phần lý cứ bước ra trong dạng thức của tâm cảm của ngôn thi và hình thi như ta gặp thế này: Tôi là nét trong cái riêng như thế/ Trong cái riêng tôi mới chỉ là tôi/ Bỗng một sớm có một dòng sông chảy/ Một dòng sông tôi biết khác tôi rồi. (Khi mà tôi đã khác). Hoặc: Chẳng có gì trong tôi lại chẳng là cái khác/ Lại chẳng là cái khác có trong tôi. (Về những cuộc hành trình). Hoặc vẫn là lối liên tưởng thuộc về độc thoại của Kim Chuông ở năng lực tư duy: Tôi như nét cắt ngang của thớ gỗ này/ Rừng triệu năm cũng hiện về nét ấy/ Tôi là cái mới hoàn toàn/ Lại là điểm của hai đầu tiếp nối/ Chẳng có gì đứng ngoài dáng tôi đây. (Vốn liếng tôi tìm trong suốt chặng đường lên). Hoặc: Mọi tồn tại đều đi qua hai phía/ Nơi chính mình và nơi phía không ta. (Tồn tại)
Nằm trong mặc tìm này ở hàng chục tập thơ đã được xuất bản như: Hoa nở ngày em đến Mặt trăng em Câu hát người đang yêu Mặt trời ba cửa sông Một phương trời gió Phương trời ngôi sao thức ...v.v.. thơ Kim Chuông vẫn đi theo nguồn mở ấy. Dường như ở thơ anh cái có trước đều bắt đầu từ một ý niệm. Kim Chuông ép tìm trong vạn vật qua đối thoại để có được cái lấp lánh của tia sáng nhận biết. Từ cái bên trong cái nhu cầu của nội lực này đòi hỏi người viết phải khai thác những gì bám tựa vào đâu biểu đạt thế nào để làm bật dậy và vang lên ý tưởng người viết? Để thao tác giải mã những ký thác của chính lòng mình có lúc thơ Kim Chuông tựa vào ngoại giới: Em gái bỗng nhoè đi trong chớp giật/ Em trẻ măng có thể hoá người già/ Trăng còn đó có thể trăng mất bóng/ Cánh lá tàn có thể ngỡ là hoa/ Có thể xoáy lẫn nhoà đi tất cả/ Mô đất còn ngôi nhà cao lại đổ... (Bão táp). Hoặc ở phía khác không bám vào ngoại giới mà điểm tựa của nhà thơ là quay về chính mình để khơi dậy từ khoảng sâu ở giữa lòng mình: Tia nắng ban mai. Tia nắng dọi đầu cành/ Sao giữa hồn tôi sáng lên tia nắng ấy/ ý nghĩ bào trong tôi chìm khuất vậy/ Thì sớm nay cái nắng cũng ùa vào. (Sớm mai này). Hoặc: Những cuộc hành trình đi tìm mình đấy/ Tôi sẽ là gì đối với chính tôi?
Phải nói cái vươn tới chiều sâu của thơ Kim Chuông hình thành rõ ý thức mà nhà thơ luôn quan tâm qua ngẫm suy và phát hiện khi đi giữa năm tháng cõi người. Kim Chuông thường lắng dừng trước những góc nhìn những mối liên hệ hàm chứa sức vang động của vạn vật. Ví như nghĩ về thời gian anh cảm nhận: Em bé lần tay trên bậc thềm kia/ Trong em bé có ông già trong đó. Hoặc: Biết bao là cái Có cứ hiện lên/ Có cái quả khi không là hoa nữa. Hoặc đây là thuyết tương đối khi bắt gặp con đường hành trình trong ý nghĩa nào đó: Lúc ta đi bên này đường là Phải/ Quay lại ư phía ấy hoá trái rồi. (Thơ hai câu)
Cái chiều sâu mang sức mở trong thơ Kim Chuông nằm ở tứ thơ biểu hiện thái độ tư tưởng tình cảm của thi sĩ. Những bài: "Khi biết được còn chút tôi như thế thi sĩ. Những bãi: "Khi biết được còn chút tôi như thế Chẳng có gì là riêng ý nghĩ thuộc về người khác Vô lý Nhân tố rời tất cả Khi mà tôi đã khác..." là những minh chứng ấy. Hoặc nhiều khi người đọc nhận ra cái chớp sáng này ở ý thơ ở thi ảnh thi liệu cụ thể: Cánh buồm con mang biển vào bờ rộng/ Biển tự đẩy thuyền lên cao hơn sóng/ Đẩy thuyền lên biển không tự nhỏ mờ. (Phẩm cách). Hoặc: Nẻo đường đời xuôi ngược/ Cùng trên một mặt bằng/ Một con thuyền ra biển/ Mưa vùi còn sóng nâng. (Tự cảm). Hoặc: Hình như cái đẹp dễ buồn/ Dễ cô hơn đến ngọn nguồn hồn ta. (Viết ở Thuận Vi)
Nói đến thơ Kim Chuông điều gốc rễ nhất phải kể đến là hồn thơ mê đắm. Có lẽ trời phú cho nhà thơ này cái sức rung với men say trong cái cảm trong vía hồn câu chữ. Thơ Kim Chuông đi từ ý niệm. Từ vô thức đến ý thức để rồi từ ý thức ấy lại tiếp tục mở ra vô thức. Kim Chuông tránh được cái khô cứng luận đề nhờ ở tâm hồn dễ ngân rung tha thiết này chăng? Nhà thơ tự bạch: Bởi tôi đa tình cho đêm ấy trăng nghiêng/ Cho trăng hoá thuyền ai lênh đênh không bờ bến/ Lung linh quá tôi sợ niềm sâu kín/ Sợ dào lên tiếng sóng ngả nghiêng thuyền. Nhà thơ đa tình bởi sẵn mang trong mình một trái tim đa cảm để rồi: Tôi tự mình góp lửa tự nhóm nhen/ Để làm khổ ngọn gió chiều cuối phố/ Để trời lặng tôi vẫn còn giông tố/ Còn gió bay cát bụi mịt mù đường. Rồi bởi đây nữa: Nỗi buồn trong mắt người ta/ Tôi dong bão tố phong ba về mình
Thế đấy chỉ một giọt nước rơi vào hồn thi sỹ đã hào thành trận bão mịt mùng. Anh xót xa trước bóng dáng vầng trăng: Em như một mảnh trăng chìm/ Cầm lên thì mất đứng nhìn thì đau. Anh dấn mình trong niềm say trong vu vơ khát vọng: Em như tăm cá lững lờ/ Tôi quăng lưới vớt dọc bờ sông trôi. Anh ngậm ngùi trước nỗi đời thân phận: Tôi không khóc nỗi mất còn/ Mà tôi khóc tháng năm tròn chắp se. Anh tự thức trước trái tim mình không thể nào khác được: Ta còn là nắng héo hon/ Để rồi hai đứa ta còn là mưa. Kim Chuông đi giữa cuộc đời với niềm mê say và tha thiết như vậy. Nhà thơ Nguyễn Trọng Tạo trong giới thiệu "Thơ những ngày xa" tập thơ in chung của Vũ Thành Chung Hà Cừ Kim Chuông đã viết: "Thơ Kim Chuông hào hoa và đào hoa". Quả tình Kim Chuông có một mảng "Thơ tình" khá hay nó như một "đặc sản" chỉ có ở Kim Chuông. Nó giàu thân phận tình đời. Nó bồng bềnh du dương quặn thắt. Nó cao đẹp uẩn súc ở ngôn từ. Nó "rất cá thể" ở hình ảnh hình tượng. Nó bất ngờ và rất thần ở thi hứng và cú tự. Nó găm vào nơi con tim người đọc cái chân trời của con người thơ ấy cái trong xanh cái mê đắm nổi chìm của nhà thơ lãng tử. Đã bao lần nhà thơ kêu lên: Đùng đùng tôi bỏ nhà đi/ Thầy u cứ ngỡ việc gì lớn lao. Hoặc: Tôi đi đã hết mùa thu/ Mà lòng tôi cứ tưởng như vẫn còn. Hoặc: Cửa ngoài hai cánh lá bay/ Biết mùa thu đã đến đây tìm mình.
Kim Chuông cứ hồn nhiên vu vơ là thế. Nhà thơ hăm hở bước giữa năm tháng đời người và ngước trông nhân thế: Người ta khép chặt cửa phòng/ Sợ cơn gió lạnh lùa trong áo mềm/ Còn tôi ra tận cửa thềm/ Cởi khuy áo thả hồn lên cành đào. Giao lao và có thể chua chát là vậy. Nhưng biết làm thế nào khi Kim Chuông tự vấn về mình về bạn: Đời còn đâu lắm Thuý Kiều/ Nên ta đã gặp là theo đến cùng. Hoặc: Ba ta ăn thật ở hiền/ Thương nhau lội bão giông tìm về nhau. Hoặc: Ba ta như cánh lá hiền/ Nắng lên là biếc gió tìm là xanh. Tình bạn tình yêu tình đời trong cảm thương đắp đổi là nền móng mà Kim Chuông gây dựng bởi anh đã nghiệm rằng: Bạc tiền giây lát qua thôi/ Ai đeo giàu nặng tình đời thì tin. Bởi sự đời đôi lúc là thế nhưng: Nhiều khi trót lỡ lầm rồi/ Ta trong xanh khác hẳn hồi trong xanh. Và Kim Chuông chàng thi sĩ mộng mơ trên hai bờ nổi chìm đã bao phen đeo đẳng bên mình tâm trạng và nhìn rõ chính mình trong thao thức cảm thương: Đêm nay bong bóng một mình/ Một mình ta gọi cho thành ba ta/ Nhớ em nhớ bạn nhớ nhà/ Bạn ơi ta sống được là có nhau
Ở đời Kim Chuông có những người bạn chí thân. Cái "tình trai" trong anh để lại nhiều chuyện vui cảm động. Kim Chuông có những chùm thơ chân thành tâm huyết hay và thật hiếm những nhà thơ có được cái "gia tài thơ" đáng quý đáng nâng niu trân trọng ấy. Kim Chuông khắc hoạ chân dung bạn bè bằng những câu lục bát bằng lối tự sự có duyên. Lục bát của Kim Chuông bay nhuyễn. Lời cao trong lay động. Ngôn ngữ bùng nổ nhịp điệu đột biến. Hình ảnh hình tượng bất ngờ. Tôi thường hình dung ra Kim Chuông với giọng đọc rút lòng và hồn thơ khát khao mê đắm để sống với những giây phút trôi dạt ngỡ như mình đang bị chàng thi sỹ ấy bỏ bùa.
Quả tình Kim Chuông có nhiều câu thơ hay ám ảnh. Tôi rất thích những câu: Tơ non đến thế là cùng/ Bên em núi đã xem chừng cũng non. Hoặc: Đêm nay hai đứa lặng thầm/ Nghe tim bạn đập nhịp nhầm tim ta. Hoặc: Bây giờ cầm được câu ca/ Lại rơi giữa chính tay ta nâng cầm. Hoặc: Đời tôi là của núi sông/ Nên tôi có cả mà không có gì. Hoặc: Chiều nay trong lặng im chiều/ Có hai người lớn làm điều trẻ con....v.v.... Có thể nói Kim Chuông là người đa tài. Với sự xuất hiện khá sớm với 13 tập thơ đã xuất bản Kim Chuông là nhà thơ đầu đàn của miền đất Thái Bình. Anh có một vùng công chúng với không ít bạn đọc ngưỡng mộ và tâm đắc thơ anh. Ở một mảng văn xuôi truyện ngắn "Dưới đám mây xa" "Nẻo khuất" rồi "Cậu Quýnh lấy vợ"... với những nhân vật được khắc hoạ khá điển hình. Vấn đề của truyện được nhìn nhận khơi dậy khá sâu. Với những trang viết mà đặc biệt là ngôn ngữ của nhà thơ thật hàm súc giàu gợi mở cuốn hút. Tôi nghĩ tài văn và tài thơ đều có ở Kim Chuông một nét riêng ở một phía đóng góp. Đầu năm 2005 Nhà xuất bản Hội Nhà văn Việt Nam cho ra mắt cuốn tiểu thuyết "Nửa khuất mặt người". Thật bất ngờ ở đây Kim Chuông đã khẳng định năng lực phẩm chất của một tiểu thuyết gia. Ở "Nửa khuất mặt người" nhà thơ "hào hoa và đào hoa" nay đã gây được sự cuốn hút ở sự móc nối sâu chuỗi các tình tiết sự kiện ở các nhân vật được khắc hoạ góc cạnh ở quá trình vận động ở chất thơ trong văn ở tư tưởng tình cảm của nhà văn ở cái nhìn từ một lát cắt một khoảnh khắc mang ý nghĩa dài rộng của thiên thu.
Cùng với sáng tác thơ và văn xuôi gần đây Kim Chuông đã cho ra mắt tập tiểu luận: Nhìn từ áng văn chương bao gồm những bài viết bình phẩm về cái hay cái đẹp của văn chương cùng những bài nghiên cứu giới thiệu phê bình những áng văn kim cổ... ở phía nhìn này người đọc lại bắt gặp một Kim Chuông tinh tế ở cảm nhận sâu sắc ở những phát hiện riêng rẽ cuốn hút ở một cách nhìn cách nghĩ cách dẫn dắt lý giải vấn đề... Kim Chuông thường vui và lấy làm tự hào ở những tháng năm miền đất anh là người đến với thơ nhiều nhất ở các diễn đàn văn học ở nhiều buổi trò chuyện trước đông đảo công chúng. Cùng với tài năng trời đã phú cho anh Kim Chuông lại có đức cần cù say mê trong lao động sáng tạo nghệ thuật. Những ai đã từng sống và làm việc cùng Kim Chuông tôi tin rằng không ai không đem lòng yêu và trân trọng anh ở con người chân thành ấm áp ở cái "hào hoa và đào hoa" mang nét riêng ở những trang văn hay và đáng quý này./.

B.V.V

Chùm thơ Kim Chuông

Tự thú

Tôi mang nợ chút nắng trời
Vùi trong hạt thóc vàng nơi đồng nhà
Chín mươi tư tuổi mẹ già
Tôi đi bỏ đất làng. Và em yêu
Nợ quê một mái tranh nghèo
Nợ mưa nợ gió những chiều ... thương nhau
Cha tôi mười sáu tuổi đầu
Mở trường dạy chữ Nho cầu hiền nhân
Tôi mê kinh nghĩa lần lần
Đời tôi nợ nhịp nợ vần câu thơ
Nợ người đứt ruột vương tơ
Nợ ai đắp đập be bờ sông trôi
Nợ tình giàu lắm buồn vui
Con tim nặng nghĩa còn nuôi nợ nần.

Trèo lên Vạn Lý Trường Thành

Trèo lên Vạn Lý Trường thành
Ta làm hảo hán với cao xanh trời
Với mây đi dưới chân người
Với vầng trán chạm loé ngôi sao chiều
Sáu ngàn cây số như treo
Đường mây đường gió liêu xiêu đá chồng
Đất trời như có như không
Đất trong thời thẳm trời trong đất dầy
Mang mang thiên địa nơi này
Người trong mây khói khói mây trong người
Bao nhiêu thân phận cuộc đời
Chông chênh đá dựng... Ơi hời nước non
"Dòng sông Người"... ấy mãi còn
Họ làm hảo hán chảy mòn trời xa
Một chiều thu đất Trung hoa
Tới đây đã hảo hán à?
Hỡi ai!

Người xa 

Hỡi người xa có biết không
cái hôm sông chảy gặp sông quê nhà
tôi yêu em thật rồi mà
tôi không dấu nổi tôi và em đâu
Tại trời tại ở muôn sau
đem hai ta buộc vào nhau một chiều
thế là thương thế là yêu
thế là cái gió đưa diều lên mây

Đợi

Cái cây đợi nụ ra hoa
bến sông đợi cánh buồm xa về chiều
ta không một mảnh tình nghèo
người ta yêu đã đi yêu một người
Chỉ còn ta đợi ta thôi
đêm thông thênh quá ta ngồi thông thênh
đợi ta ta nhận ra mình
lòng ta ở đám mây bềnh bồng xa
ở trong xao xác tiếng gà
ở se sẽ giọt sương và gió lay
ở không chi cả đêm dày
lòng ta chợt thức chợt say chập chờn
Đợi ta ta gặp cung đờn
mười dây ướt đẫm mười cơn bão lòng.


KC

More...

HOA TRẶC TRÌU...

By Nguyễn Minh Trí



HOA TRẶC TRÌU NGÁT TRONG BÀN TAY THỢ

NGUYỄN LONG KHÁNH

Nguyễn Đình Di làm thơ từ hồi học trường Trần Phú bên sông Lấp Hải Phòng. Cậu bé tròn trịa đậm đà có đôi mắt to ngỡ ngàng nhìn ai cũng như muốn hỏi điều gì đó trong đời! Tôi và Di học chung thầy dạy văn - Đỗ Công Đắc. Hai đứa có những bài văn hay được đọc trên lớp mỗi kỳ làm văn biết rồi thân nhau...
Ngay từ ngày ấy Di đã viết những vần thơ tặng tôi:
Nhà Long trong ngõ âm thầm
Có hàng tre hát rì rầm trong đêm
Nhà Long phía mặt trời lên
Có trà nhấp giọng mềm trên môi
... Nhà Long một mảng hồn tôi
Có người chia nỗi buồn vui đáy lòng
Tôi nhớ mãi bài thơ đầu tiên Di viết tặng chia sẻ mối tình đầu của tôi:
... Long đã biết  khi yêu nhau là thế
Có kể gì đâu địa vị tiền tài
Hạnh phúc gì hơn! Những buổi chiều tà ngắm lúc ban mai.
Long sẽ làm thơ - Thu viết những lời âu yếm.

Đất nước bước vào cuộc chiến tranh chống Mĩ. Tôi và Nguyễn Đình Di từ biệt gia đình người thân tình nguyện nhập đội thanh niên xung phong (TNXP) chống Mĩ cứu nước vào tuyến lửa Hà Tĩnh Quảng Bình làm đường Trường Sơn. Tôi nhớ bài thơ "Chúng tôi đi" anh viết năm 1965. Một bài thơ đầy khí thế hào hùng của tuổi trẻ náo nức lên đường theo lời kêu gọi của Tổ quốc"
18 tuổi đời chúng tôi đi
Chiều nay sóng biển vỗ ầm ì!
Có phải trái tim ta xao xuyến cùng với biển.
Mà phút giã từ những giọt lệ bỗng rơi
Ta chào nhé mái trường thuở nhỏ
Tán bàng xanh dịu mát tuổi thơ
Con đường nắng ngời hoa phượng dỏ
Dòng sông cuộn chảy sóng xô bờ...

4 năm là TNXP. Ngày cầm cuốc cầm choòng phá núi mở đường đêm về Nguyễn Đình Di lại lụi cụi làm thơ dưới ánh sáng le lói của ngọn đèn làm bằng quả bom bi ở góc lán. Những bài thơ Di viết về TNXP là những bài thơ hay nhất.
Những chiến sĩ TNXP và bộ đội đã sống hoặc từng đi qua mảnh đất Sơn Tiến - Hương Sơn - Hà Tĩnh đọc bài thơ "Nhớ về Sơn Tiến" của Di ai cũng nghẹn ngào rưng rưng nước mắt:
Trên cánh đồng thương nhớ của đời tôi
Thửa ruộng thờ có tên là Sơn Tiến
Mười tám tuổi tôi giã từ quê biển
Neo đầu đời vùi đáy cát sông La...
... Suối cuối làng em còn đến tắm không
Trắng lấp loá thót tim người đứng đợi
Mây óng mượt quay tròn hong bên suối
Hoa dẻ vàng ấp úng ướp vào đêm
Và:
Thơ nghẹn dòng nhớ buổi mẹ và em
Cùng tôi khóc rưng rưng ngày đưa tiễn
Mùa mưa lụt năm nay... Ôi Sơn Tiến!
Ruộng chân đồi cá lư ... có lên không?
Bài thơ "Ngôi mộ vong ở cổng trời" Di viết tặng liệt sĩ Nguyễn Thanh Bình hy sinh lúc 17 tuổi và những liệt sĩ TNXP nằm lại trên tuyến đường Trường Sơn
Tôi nghe bạn mình dưới mộ
Lặng lẽ ru những thao thức cõi người
Tiếng đồng đội mình trẻ mãi tuổi 20
Ngôi mộ vong cuộc đời neo hồn lại

Và bài thơ "Hoa trặc trìu" - một khúc ca về hạnh phúc lãng mạn trữ tình mang nhịp đập trái tim của bao người lính trẻ khi hành quân qua những con suối rừng miền Trung khắc nghiệt bất chợt gặp những chùm hoa trắng li ti ngát hương theo mãi bước hành quân:
Hoa trặc trìu níu díu dưới trời xanh
Nụ cười dụi vào hoa phấn thơm vàng áo lính
Bom nổ xô em đắm miền cô tĩnh
Để hương trặc trìu nồng lặn đến hôm nay...
... Trong hương trặc trìu tóc bạc đã như mê
Tay che mắt xin lại thời trai trẻ
Để xứng với em em cười trong trẻo thế.
Anh cũng trong veo như mười tám trong rừng
Ôi mùi thơm lặng lẽ thấm sâu vào lồng ngực ngát trong bàn tay thợ của Nguyễn Đình Di suốt cuôc đời. (Bài thơ được nhận giải 3 Nguyễn Bỉnh Khiêm Hải Phòng  1995 - 1997).

Năm 1968 hoàn thành nghĩa vụ TNXP Nguyễn Đình Di trở về thành phố quê hương làm người thợ chắc tay búa xây dựng những công trình mới. Sau những giờ làm việc mệt nhoài đêm đêm trở về nhà bên cạnh người vợ trẻ cũng là đồng đội TNXP và đứa con gái nhỏ anh lại âm thầm miệt mài làm thơ.  Cứ 3-4 ngày Di lại chạy đến đọc cho tôi những bài thơ mới viết còn nồng hơi ấm. Thật xúc động khi đọc những câu thơ Di viết về tình yêu của người thợ:
Em ơi đừng đẩy bàn tay chai ra
Khi anh vuốt ve em bằng bàn tay thô ráp này
Từ trong mỗi ngón tay
Có một trái tim đang dịu dàng nói
Em hãy để những nốt chai của ban ngày dầu dãi
Được nghỉ ngơi trên vùng da ấm mịn của em
Và: .
... Đến đêm khi em đã ngủ
Bàn tay giấu em ủ những câu thơ
Thay lời hát ru... vỗ về giấc ngủ em thật sâu
(Nói hộ bàn tay chai)

Tập thơ Cỏ khát (NXB Hải Phòng - 2009) có 63 bài thì đến gần nửa đứng vững chắc trong làng thơ Hải Phòng. Trong đó mảng thơ viết về gia đình bè bạn và tâm tình người thợ được bạn bè người đọc ghi nhận thành công như bài thơ "Mẹ của thợ" thật ấn tượng.
Con chí chát búa đe lời của thợ
Giọt mồ hôi cứ ngỡ đủ bảy mầu
Mẹ ru cháu suốt tháng ngày nồng nã
Dìu cánh cò bay trắng những canh thâu
Trong nhà thợ mẹ hình như không ngủ
Tóc bạc canh gà giữ lửa qua đêm
Mẹ lầm lụi nhặt từng hòn than sót
Sáng mai ngày con nhận thổi bùng lên.
Những bài thơ trong tập Cỏ khát sâu lắng về ý tứ cấu trúc tìm tòi về ngôn từ. Nó đã thật sự là tiếng nói tri âm gợi mở chia sẻ với mọi người về lí tưởng sống về nhân-nghĩa-trí-tín ở đời. Thơ anh đã thấm được giáo lý của Đạo phật có sự day dứt dằn vặt vươn lên đến cõi cao cả của con người. Trong bài thơ "Người nhập đồng" anh viết:
Bay vào trời của lá
Chìm vào đá gặp mây
Khóc rồi hát với bạc đầu gió bể
Tin ngày mai tan được dưới đất này
Mười ngón tay gầy
Tắm lửa mặt trời trên sóng cát
Người nhập đồng khum khum đôi lá khát
Vục lên đầy trăng
Có thể nhặt ra những câu thơ tài hoa thật đáng trân trọng mà những người làm thơ ước ao có được trong tập Cỏ khát của Di.
Chiếu sáng rõ mặt người bợt bạt
Trái tim oằn như là héo lửa hong
(Tiếng vang)
Hạt lúa chạy vào nhà hí hóp thở
... Mặt biển xám đang phồng lên trước gió
... Rẽ cỏ gà thức trắng ở chân đê...
(Trước biển)
Người chìm đắm ở bến mê
Bóng gầy ngã vào khói sóng
(Phiên chợ)
Người thu khoác nắng cuối ngày
Buông cần sông mấy ngón gầy ngủ quên.
(Câu cá mùa thu)
Câu thơ gầy guộc đẫm trăng
Thắt lòng dịu êm vết bỏng
(Bão mặn)

Năm 2004 chùm thơ của Nguyễn Đình Di được nhà thơ Hữu Thỉnh chọn đăng trên báo Văn nghệ nhà thơ Trần Đăng Khoa đánh giá là chùm thơ hay nhất 1-2 năm đó. Các bài thơ Nói hộ bàn tay trái Rượu của bố Khấn gọi cây Bến quê Chùa làng Một đêm lang thang ở Tam Đảo Nhớ về Sơn Tiến Hoa trặc trìu Khúc tưởng niệm.... được người đọc bạn văn đánh giá cao xứng đáng là những bài xuất sắc của thơ Hải Phòng. Tập Cỏ khát theo tôi là tập thơ đáng được giải của thành phố về văn học nghệ thuật.

Năm 2008 Nguyễn Đình Di trình làng trường ca Lộ trình. Đây là sự đúc kết đi tới đích sâu xa lớn lao của đời mình:
Trong văn vắt là những con chữ
Của một người đàn ông tử tế
Của người đàn ông gắng sống đàng hoàng
Hát lời ruột gan

Lộ trình
gồm 4 chương với 18 khúc ca nói những lời gan ruột sâu xa những suy nghĩ dằn vặt của một người làm thơ đã đi suốt cuộc đời với nhân dân lao động với Tổ quốc yêu thương của mình.
Chương I: "Chúng tôi đi" gồm 3 khúc Trời trong trẻo - Những cây số đầu tiên - Cửa rừng. Di viết về những năm của tuổi thanh xuân trong trẻo bước vào đội ngũ những chiến sĩ TNXP đi mở đường đánh Mĩ:
Chương II: "Những người mở đường" gồm 6 khúc Khai tuyến - Suối hoa trắng - Trong gió - Nắng ở cổng trời - Tiếng gọi - Nương trăng.
Đây là chương thành công của trường ca với những khúc hát lãng mạn trữ tình bay bổng của tuổi trẻ cách mạng với tầm cao  đất nước. Những chàng trai cô gái TNXP tuổi 16-18 đi vào cuộc chiến tranh với một trái tim quả cảm tin yêu bằng cả tâm hồn mình dám hy sinh những gì tốt đẹp nhất cho sự sống còn của những con đường dẫn tới chiến thắng của dân tộc.
Những ngày này
Giờ sinh học dường như quay ngược
đẩy đoàn xe lên dốc
Đêm chuyển thành ngày
Mặt người xanh sắc lá
Tóc đen nhuốm màu đất đỏ
Chỉ những nụ cười sáng láng tin nhau
Trong những ngày lặn lộn bám tuyến đường máu lửa ấy có biết bao kỷ niệm trữ tình lãng mạn làm nên những khúc ca trong sáng tuyệt vời của tình bạn tình yêu.
Tuổi trăng em vừa chặt cây vừa hát
Tuổi xuân anh dồn vào nhát cuốc
Hay:
Em mười bảy dẫn anh về bên suối
Về miền thơ thao thiết của đời mình
Hoa ngời ngợi giữa đôi bờ là nõn
Mắt ai nhìn khoảng lặng chiến tranh
Trong chương này "Nương trăng" là một khúc tình ca tuyệt vời nhất về tình yêu dâng hiến trong chiến tranh làm ta mê đắm. Khi hai người con trai con gái đến với nhau trong đêm trăng trên những cánh rừng còn vương khói bom của giặc:
Lặn vào kí ức tôi
Làn hương trinh nữ của da thịt em
Từ cánh võng tôi bật chạy đến em
Như con ong được hương hoa dẫn dụ
Đến nơi ta hẹn nhau qua ánh mắt ban chiều
Góc nương ấy khói bom còn khét cháy
Đêm trăng này chỉ riêng có hai ta...
Và:
Trên nương trăng này ta đã khóc khi nhận của nhau
Giọt mồ hôi thơm lừng rịn ra từ da non mềm mại
Hương loài hoa không tên thảng thốt kết trái
Trong tiếng đôi công tố hộ
Trong tiếng hoẵng kêu sương giữa mùa cưới nghẹn ngào...
Đó là tình yêu lãng mạn bay lên của đôi lứa trong cuộc chiến tranh chống Mĩ ngày ấy.
Mây nói lời mịn màng của hai cánh tay đang ôm cổ anh
Nói lời hai đôi chân mê man như rễ quấn
Có tiếng cánh vỗ trong trời gầy của anh
Có tiếng suối chảy trong biển héo của em
Có tiếng hạt cựa mình trong đất ẩm.

Chương III: "Vùng gió mặn" với các khúc Người về - Một khúc tâm tình của thơ - Thành phố của tôi - Tự khúc - Hát với cơn say - Tôi tin. 6 khúc ca trong chương này Nguyễn Đình Di nói về thành phố quê hương về gia đình thân yêu của mình về những ngày vất vả gian lao dựng xây thành phố bằng đôi bàn tay thợ. Có nhiều khúc những đoạn thơ thật mạnh mẽ ấn tượng làm người đọc không thể quên...
Chương IV: "Nơi tôi về" gồm 3 khúc - Bài ca của con chim biển - Ngọn lửa - Tuyến vượt là chương Nguyễn Đình Di khẳng định niềm tin của mình với thơ ca với tình yêu nhân dân tình yêu Tổ quốc. Anh chấp nhận sống nghèo vất vả vững bước đi trên lộ trình của mình đã vạch để đến được với con người đích thực con người viết hoa như anh mong ước hết mình vì nhân dân Tổ quốc Việt Nam yêu quý của mình.
Có một người đàn bà
Đẻ ra bầu trời
Bầu trời sinh thành lửa
Ngọn lửa yêu thương
Con đường mà Chúa Phật Thánh Thần và Người.
Đều gọi là Con
Và Thơ
Nhỏ nhoi
Bình yên
Tận tuỵ cháy suốt lộ trình

Gần 40 năm làm thơ Nguyễn Đình Di đã có tập thơ in chung (Người miệt biển Hoa muống biển) và 2 tập thơ riêng Mưa đền cây Cỏ khát cùng trường ca Lộ trình đó thực sự là những trang thơ giàu cảm xúc yêu người yêu đời dằn vặt xót xa mong ước cho cuộc sống ngày một tốt lành ý nghĩa hơn...
Đây chính là mục đích của nhà thơ cầm bút bằng bàn tay thợ vương mãi hương hoa trặc trìu trong trẻo suốt đời mình./.

NLK

More...

Đinh Thường với Hoa Dã quì

By Nguyễn Minh Trí



Đinh Thường với Hoa Dã quì


Tôi hết sức bất ngờ vì tác giả Đinh Thường đã có mấy chục năm làm thơ. Là người lính lại là lính biên phòng nay đồn trú nơi này mai đồn trú nơi khác nơi nào Đinh Thường cũng gặp những con người những hoàn cảnh những vẻ phong phú và mới lạ của thiên nhiên và rồi anh âm thầm lặng lẽ làm thơ. Thơ anh ghi lại những cảm xúc suy tư những niềm vui nỗi buồn của anh mấy chục năm trên suốt nẻo đường đất nước.
Đọc tập thơ dễ nhận thấy Đinh Thường có một mảng thơ khá phong phú về cao nguyên phía tây của Tổ quốc. Hình như đó là nơi anh lặn lội chiến đấu vất vả và có nhiều kỉ niệm nhất: một "chiều mưa" rừng một "đêm rừng giấc ngủ chênh vênh" một "mảnh trăng cong" "con suối lũ cuốn xô đá ghềnh" "nắng như thiêu như đốt" "ngàn xanh mưa xối xả"; cho nên "đường lầy xe trật trẹo" "tóc xanh lấm bụi đỏ"... Nhưng chính ở biên cương lại cho Đinh Thường những niềm vui những kỉ niệm êm đềm và làm cho tâm hồn anh trở nên thanh xuân. Ở đấy anh có "đôi mắt giữa rừng" "dán vào anh" có cái "duyên hờ" để "anh ngồi chết lặng cho chiều sang đêm" có cả "một thời để nhớ" từ giọng thơ của chị biên tập viên Ban văn nghệ Đài phát thanh và truyền hình tỉnh Gia Lai cho đến "cái mà lúm đồng tiền" có bông Dã quỳ dịu dàng mà ám ảnh đã trở thành tên cho tập thơ này.
Viết về Tây Nguyên Đinh Thường có nhiều rung động bao gồm cả cái anh nhìn thấy ở biên cương và cả nỗi nhớ cha mẹ vợ con quê nhà. Anh có cái nhìn đằm thắm và nhạy cảm trước thiên nhiên. Anh kể mùa khô ở tây Nguyên cây khô lá cỏ cháy cả cánh rừng bụi đỏ phủ dày cảnh vật nhiều khi trông "thương tàn". Thế nhưng chỉ cần một trận mưa đầu mùa trút xuống đại ngàn và đồng cỏ giữ sạch bụi những mầm xanh bạt ngàn nhú lên rồi dần dần sẫm lại và hoa dã quỳ vàng nở ra nhìn cứ sung sướng bồi hồi ngỡ lạc vào chốn thần tiên: Nẻo đường biên giới anh đi/ Dã quỳ vàng vẫy vân vi gió ngàn/ Mùa khô bụi đỏ phủ tràn/ Mùa mưa giữ bụi bạt ngàn lên xanh/ Đường hoa dẫn bước chân anh/ Vàng xanh điểm sáng bức tranh biên thuỳ. (Hoa Dã quỳ)
Nhiều bài thơ Đinh Thường viết từ mấy chục năm trước bây giờ mới có dịp công bố. Vì thế thơ anh trẻ trung và rất nhiều bài nói về tình yêu. Tình yêu trong thơ Đinh Thường nhiều khi chỉ là một chút thoảng qua một chút gợi nhớ gợi thương (Duyên hờ Đôi mắt giữa rừng Gửi cô má lúm đồng tiền Chợ Hồ Cô gái trước cổng chùa Mắc nợ Em Thuỷ Tìm em trong chiều Trăng và em...). Đinh Thường đem đến những cảm giác thật nhẹ nhàng đôi lúc có duyên của những người con trai mộc mạc chân thành và cả chất lính thẳng thắn chất phác. Thơ lính nhưng không khô khan mà vui say lạc quan pha chút hóm hỉnh hồn nhiên: Buổi chiều em mặc áo vàng/ Ngon như trái chín muộn màng cuối thu/ Cô đơn chiều xuống bâng khuâng/ Tôi xây nỗi nhớ tầng tầng đợi em (Tặng người áo vàng).
Có một mảng thơ của Đinh Thường mang dấu ấn người lính xa nhà. Đó là tình yêu vợ con cha mẹ quê hương: Rừng xa đón đợt mưa đầu/ Thương em chợt nhớ mưa ngâu quê nhà... Nhớ em lòng nặng yêu thương/ Ngõ chiều ngơ ngẩn dõi đường người đi (Nỗi nhớ chiều mưa)... Thương em vất vả quê nhà/ Bão gần lo chống bão xa lo phòng (Nghe đài báo bão)
Là người lính nhưng tâm hồn và tình cảm Đinh Thường rất đằm thắm tế nhị khác xa công việc quân cơ thô ráp dữ dội quyết liệt hằng ngày: Biên cương lắm nỗi gian lao/ Nhớ con muốn khóc lệ nào có rơi (Bước chân vào đời)... Nay về ngơ ngẩn đứng nhìn/ Nóc kia cột đấy im lìm bóng cha/ Nỗi niềm thương cảm xót xa/ Mất cha - cột nóc ngôi nhà chênh vênh (Viết ngày mất cha)
Đọc tập thơ "Hoa Dã quỳ" của Đinh Thường ra dễ dàng nhận ra một người lính có tâm hồn trong sáng lạc quan pha chút hồn nhiên hóm hỉnh vui vui và nhiều khi có chút đa cảm vấn vương. Thơ Đinh Thường dễ đọc dễ hiểu chân thành ít phải dùng đến kĩ thuật. Đôi khi có cảm giác như người lính rừng "lên rừng xuống biển" này "xuất khẩu thành thơ" vì thế thơ của anh gần với ca dao dân ca nặng về bày tỏ khêu gợi hơn là triết lí sâu xa. Xuất phát từ quý trọng người lính và tâm hồn người lính qua blog Cát Biển tôi xin trân trọng giới thiệu một chùm thơ Đinh Thường với bạn đọc xa gần.

Hồ Anh Tuấn

Hoa Dã quì -  Chùm thơ Đinh Thường

Hoa Dã quỳ 

Nẻo đường biên giới anh đi
Dã quỳ vàng vẫy vân vi gió ngàn.
Mùa khô bụi đỏ phủ tràn
Mùa mưa giũ bụi bạt ngàn lên xanh.
Đường hoa dẫn bước chân anh
Vàng xanh điểm sáng bức tranh biên thuỳ.


Chợ Giữa

Chợ Giữa họp ở đầu làng
Gọi là chợ Giữa - tên làng đấy thôi.
Nhớ ngày hè nóng như sôi
Chị tôi đi chợ quảy đôi quang chành
Hai bên chất núi rau xanh
Ra chợ bán hết tuổi xanh nhọc nhằn.
Đoan trang gom góp quanh năm
Tằm tơ trồng cây chăm chăm đong đầy.
Tôi từng xa xứ về đây
Chưa về tới chợ đã say lòng người.
Kìa ai như chị của tôi
Nước non kĩu kịt trên đôi vai gầy.

Diều trăng 

Ai chong sao thả diều đêm
Chắc là không ngủ mới đem thả diều
Chắc là người ấy đang yêu
Quên diều lơ lửng từ chiều sang đêm.
Tôi ngồi hóng gió bên thềm
Mở miền ký ức êm đềm xa xưa.
Con diều xa lắc đong đưa
Bến sông lộng gió đôi bờ mướt xanh.
Tình em chỉ thoáng mong manh
Vẫn còn dịu ngọt trong anh tới giờ.
Đêm nay trăng quyện vào thơ
Diều bạc no gió bên bờ Sông Ngân.
Ơi người muôn dặm tri âm
Còn thương hãy dậy ra sân thả diều.


Nỗi nhớ chiều mưa

Rừng xa đón đợt mưa đầu
Thương em chợt nhớ mưa ngâu quê nhà.
Nỗi niềm càng nhớ càng xa
Giọt mưa lưu lại cho ta nhớ mình.
Buồn vui nhớ bóng nhớ hình
Khi mơ khi tỉnh cũng mình vấn vương.
Nhớ em lòng nặng yêu thương
Ngõ chiều ngơ ngản dõi đường người đi.
Mưa nhoà ngỡ lệ chia ly
Chạnh lòng thêm nhớ những gì chiều mưa.


Hai mùa biên cương

Mùa khô lên biên cương
Bồng bềnh trong nắng gió
Tóc xanh lấm bụi đỏ
Khô khan bạc lá rừng.
Mùa khô ở biên cương
Nắng như thiêu như đốt
Làm dịu những cơn sốt
Ơn bát canh rau rừng.
Mùa mưa lên biên cương
Đường lầy xe trật trẹo
Hò nhau đồng đội kéo
Âm vang lan núi rừng.
Mùa mưa ở biên cương
Ngàn xanh mưa xối xả...
Để thoáng lòng yên ả
Đỉnh rừng chiều nắng vương.
Cả hai mùa biên cương
Từng đường mòn cột mốc
Những bản làng chân chất
Bỗng trở thành thân thương.
Mùa lại mùa biên cương
Tấm lòng anh còn đó
Gửi về em xóm nhỏ
Cả hai mùa biên cương.

ĐT

More...

Sóng đời trong thơ Trần Tích Thiện

By Nguyễn Minh Trí



Sóng đời trong thơ Trần Tích Thiện

Phạm Xuân Trường

Có lẽ ít ai yêu thơ mê thơ và say thơ như Trần Tích Thiện. Có lần anh tâm sự: Tôi làm thơ như người ăn trộm dấu vợ dấu con. Cả nhà không ai muốn anh cặm cụi nửa đêm thức giấc bật dậy để ghi chép một ý tưởng hay sửa lại một từ trong một câu thơ.
Anh làm thơ trong hoàn cảnh éo le như vậy. Cái ham muốn nhỏ nhoi của anh dấu kỹ trong đầu rồi lựa mà ghi vào sổ tay để thành bài thơ. Ở Trần Tích Thiện đặc biệt tôi ít gặp anh thuộc làu các bài thơ của nhà thơ quá cố Đồng Đức Bốn Nguyễn Bính Hàn Mạc Tử...Nói tên bài nào là anh đọc ngay bài thơ đó. Anh thuộc làu bài thơ dài hàng trăm câu của ai đó mà anh không nhớ tên tác giả.
Là người lính hết chiến tranh từng lặn lội trong cuộc sống với những va đập của sóng đời. Anh tâm sự với con trai: "Chiến tranh vắt kiệt đời cha/ Thương trường khốc liệt con là doanh nhân/ Con ơi có phúc có phần" (Nói với con). Lời thơ mộc mạc giản dị như câu chuyện cha con hàn huyên căn dặn. Nếu nói bằng văn xuôi chắc hẳn cả trang giấy hàng nghìn chữ. Vậy mà chỉ hai mươi từ với ba dòng lục bát mà chặt chẽ ý tứ cô đọng.
Với 45 bài thơ hầu hết là lục bát anh rất nhuyễn trong thể thơ truyền thống. Dẫu rằng người xưa từng nói: Đọc thơ là thấy người tuy không tuyệt đối nhưng tôi tin ai đọc "SÓNG ĐƠI" của Trần Tích Thiện thì tư chất đôn hậu của anh hiện rõ mồn một. Một người bị giằng xé day dứt đau đớn xót xa gìằn vặt "Làng tôi giờ chẳng còn tre/ Võng ru kẽo kẹt trưa hè cũng không/ Đâu rồi giếng nước xanh trong/ Cây đa cao ngất tầng không đâu rồi/ Bao năm biền biệt nổi trôi/ Nay về làng chẳng nhận tôi người làng" (Làng Ơi
). Tìm thấy trong thơ anh những lời bộc bạch giản dị có phần chua chát. Nào đâu phải của riêng ai giữa thời buổi gạo châu củi quế " Mỗi năm vài chục thiếp mời/Khóc không thành tiếng đành cười nghiến răng" (Hệ Lụy). Tôi tin rằng ai đó đọc câu thơ này không khỏi tủm tỉm và ngẫm ngợi. Cả bài thơ mang màu sắc u mặc lối thơ của tiền nhân ngày trước.
Thơ của trần Tích Thiện hầu như bài nào cũng có tứ. Chính vì thế mà anh có góc nhìn khác người. Độc giả đọc xong thường à lên một tiếng. Những cái bất ngờ của bài thơ
"Chặt đầu cắm đất lại tươi/ Máu thành mật ngọt xác phơi trắng đường" (
Cây Mía).
Những điều nhỏ nhoi vụn vặt giữa cuộc sống tưởng như lãng quên. Nhưng với góc nhìn nhân hậu xót xa anh tâm sự bằng thơ như cái kính chỉ có một mắt của người bạn thương binh "Chiến tranh đã cướp mất/ Một mắt của bạn tôi...Tôi nhìn đất hai mắt/ Bạn nhìn trời một thôi" (Phát hiện).
Bài thơ váng vất một nỗi buồn nhân thế gợi nhiều hơn là mở.
Tập thơ đầu tay của người không còn trẻ. Gấp tập thơ lại mà câu chữ mà hình ảnh của những bài thơ day dứt trong lòng. Tôi tin rằng anh sẽ còn đi xa hơn nữa. Giữa thời thơ gọi là hiện đại và không vần đang ồn ào náo loạn. Và Cung Văn hóa LĐ HN Việt Tiệp hai mươi năm là vườn ươm cho không ít những nhà thơ của Hội Nhà văn Hải Phòng và Hội Nhà văn Việt Nam. Qua Blog Cát Biển xin giới thiệu một chùm thơ của Trần Tích Thiện đến độc giả.

Chùm thơ Trần Tích Thiện

Cây mía

Chặt đầu cắm rễ lại tươi
Âm thầm sống giữa tơi bời bão giông
Chắt chiu hương vị vào trong
Quanh mình gươm tuốt mà lòng dịu êm
Hàng hàng thẳng đứng đan xen
Dạn dày mưa nắng sương đêm rã rời
Đắng cay hứng trọn một thời
Máu thành mật ngọt xác phơi trắng đường.

Yêu thương như thế đủ rồi

Chờ nhau nát cả trời chiều
Rằng thương rằng nhớ rằng yêu thật lòng
Bây giờ đứng giữ mênh mông
Đêm sầm sập đến mà không thấy người
Yêu thương như thế đủ rồi
Ta về đốt hết những lời nỉ non
Bây giờ sống dựa vào con
Huân chương quên để đáy hòm mối xông.

Nói với con

Mẹ sinh con ở quê nhà
Cha say chiến đấu tít xa cuối trời
Ăn đạn nổ uống bom rơi
Vẫn nghe vẳng tiếng ru hời thiết tha
Năm đi tháng lại ngày qua
Tuổi vàng lôi kéo mẹ cha đến gần
Con đường phơi phới tuổi xuân
Lao vào cơn lốc gian truân thương trường
Dẫu không đổ máu đổ xương
Con đường gai góc là đường phải qua
Chiến tranh vắt kiệt đời cha
Thương trường khốc liệt con là doanh nhân
Con ơi! Có phúc có phần
Ngoài trời ngan ngát hương xuân bay về.

Nếu tôi là vua
Tặng Thúy Ngoan

Mặc ai thay mốt đổi màu
Riêng em vẫn nón trên đầu không quai
Lời xưa còn vọng bên tai
Nát lòng "cuốc cuốc" rạc rài bờ tre
Đêm buồn mưa gió tái tê
Ngày lo chèo chống bốn bề bão giông
Em là vợ em là chồng
Em là mẹ trĩu vai gồng ba con
Một mình lội suối trèo non
Thời gian  trôi vẫn vuông tròn như xưa
Nên giờ quai nón chưa mua
Tôi về xé chiếc áo vua buộc vào.

Tôi yêu

Tôi yêu yêu mảnh trăng gầy
Tôi yêu vóc dáng của cây thông già
Tôi yêu bóng nắng chiều tà
Tôi yêu tha thiết cánh hoa bên đường
Tôi yêu tiếng vạc kêu sương
Tôi yêu hạt bụi bám tường rêu xanh
Tha hương dan díu thị thành
Vẫn yêu da diết mái gianh quê nghèo
Nát lòng vì một chữ yêu
Đến nay tóc bạc vẫn nhiều suy tư
Đời người hư thực thực hư
Mà mình thì cứ yêu như buổi đầu.

TTT

More...