Ngày xuân trên Tam Đảo

Tin chung Trackbacks (0) Bản in góp ý (22)   


Trong những ngày xuân này, Hội Văn hoá Doanh nhân Hải Phòng tổ chức một chuyến công tác thực tế, họp toàn thể Ban chấp hành và giao lưu với một số các nhà văn, nhà thơ, nhạc sĩ Trung ương trên khu du lịch Tam Đảo thuộc thị trấn Tam Đảo, huyện Tam Đảo, tỉnh Vĩnh Phúc, với sự tài trợ của Tổng Công ty Công nghiệp Tàu thuỷ Nam Triệu. Khí hậu ở Tam Đảo rất độc đáo, bốn mùa trong ngày, khung cảnh thơ mộng, hùng vĩ. CB xin có bài viết về Tam Đảo cùng ghi chép lại một số sự kiện trong chuyến công tác này gửi tới các bạn.


NGÀY XUÂN TRÊN TAM ĐẢO

Thiên nhiên và dấu vết thời gian đã ban tặng cho Tam Ðảo một khung cảnh tuyệt vời: vừa thơ mộng, u tịch, vừa hùng vĩ, huyền ảo trong cảnh mây gió, sương khói vờn trên đỉnh núi rồi sà xuống những thảm cỏ, những ngôi nhà ven sườn núi. Tam Ðảo là một dãy núi dài khoảng 80km theo hướng tây bắc- đông nam, rộng từ 10- 15km, là khu nghỉ mát ở núi lý tưởng của miền Bắc. Tam Đảo có diện tích 253ha nằm trên độ cao 900m so với mặt biển. Từ thị xã Vĩnh Yên, tỉnh Vĩnh Phúc sau 1 giờ xe chạy là lên tới Tam Ðảo. Thêm 20km đường dốc, lượn qua các sườn núi thông mọc thẳng tắp nhìn lên cao vút, mờ mờ ẩn hiện Tam Ðảo trong sương.

Núi Tam Đảo có 3 đỉnh nổi lên như 3 hòn đảo: đỉnh giữa có tên Bàn Thạch cao 1.388m; bên trái là đỉnh Thiên Nhị (chợ trời) cao 1.375m, trên có tháp truyền hình cao 93m, bên phải là đỉnh Phù Nghĩa cao 1.400m.

Thị trấn Tam Ðảo rộng hơn 300ha, nằm gọn trong một thung lũng nhỏ của dãy Tam Ðảo, đồng thời cũng là một trong những vườn quốc gia lớn nhất miền Bắc. Khí hậu ở đây rất độc đáo, bốn mùa trong một ngày. Buổi sáng se se gió xuân, buổi trưa nóng ấm mùa hạ, buổi chiều lãng đãng heo  may mùa thu, buổi tối lạnh giá của đông. Thị trấn xinh xắn với những con đường lên xuống ngoằn ngoèo, quanh co nho nhỏ, một dòng suối như vệt nước cắt ngang chảy suốt bốn mùa.

Ðầu thế kỷ 20, người Pháp lên Tam Ðảo, xây dựng ở nơi đây thành khu nghỉ mát với 200 biệt thự, khách sạn, nhà hàng, sân chơi thể thao, bể bơi, sàn nhảy. Ðường đi lên núi Tam Đảo tuy hơi vất vả nhưng rất đẹp. Hoa phong lan, hoa cúc quì và các loài hoa dại không tên khác nở đầy lối đi, toả hương thơm rất lạ, màu sắc rực rỡ... cộng thêm không biết bao nhiêu là bướm đủ loại rập rờn trên hoa lá, đậu trên tóc người, bay theo người hàng đàn như các sứ giả Tam Ðảo đón khách lên chơi. Lên tới đỉnh, phóng tầm mắt ra bốn phía là mênh mông trời, đất, gió, mây...

Từ trung tâm thị trấn, rẽ bên phải theo một con đường mòn, hút xuống thung lũng sâu, thác Bạc giấu mình trong núi, bí ẩn đổ xuống dòng nước trắng bạc, lóng lánh ánh mặt trời phản chiếu sắc cầu vồng. Một dòng suối nhỏ từ trên cao 30m ào ào tuôn nước, thả vào gió tiếng suối, tiếng rừng, tiếng lá dội vào vách đá nghe thâm u như tiếng ngàn xưa... Nếu thích mạo hiểm, hãy đi xa chút nữa tới đỉnh Rùng Rình, ở đây cây cối, núi non đẹp như trong cổ tích, có nhiều cây to mấy người ôm phủ đầy hoa phong lan, tiếng chim hót ríu rít vang động, bươm bướm bay rợp trời.

Tam Đảo có nhiều sơn hào, nhưng lại không giết hại thú vật quý hiếm hoặc làm hao tổn lâm thổ sản. Bởi đây là vườn quốc gia, mọi thú hoang dã đều được bảo vệ nên người dân Tam Đảo đã chăn nuôi nhiều con vật như bò, dê, lợn rừng, rắn và vài thứ thú hoang dã được thuần hóa để nhân giống chăn nuôi, cung cấp thực phẩm sạch cho các quán ăn, nhà hàng, khách sạn.

Món thịt lợn rừng là lợn rừng thật sự vì chúng được nuôi trong các làng trại của người dân tộc Sán Dìu trên núi Tam Đảo. Lợn được thả rông trong rừng, đến bữa gọi về cho ăn thêm rau, cám để chủ nuôi quản lý cho dễ. Chúng phải tự kiếm thức ăn có sẵn trong rừng để sống là chính. Do vậy, chúng trở lại bản năng gốc, chậm lớn, mõm dài ra, lông xồm xoàm, mông quắt, bụng thon lại, chân cao lên, chỉ 15 đến 16kg là có thể làm thịt.

Thương hiệu rau su su Tam Đảo được nhiều người ưa chuộng, hàng bán không bao giờ bị ế. Su su ưa đất xốp, ẩm và tốt,  thích hợp với khí hậu Tam Đảo. Ở đây, giàn su su rộng tới mấy sào, quả lúc lỉu, mỗi lần hái, có thể chứa đầy cả một ôtô tải. Ở Tam Đảo có hẳn cả một dãy chợ bán rau su su.

Nhiều người đã từng biết đến rừng trúc Sa Pa, rừng trúc Yên Tử nhưng không đâu bằng trúc Tam Đảo. Bà con miền núi ở đây gọi là cây sặt. Măng Tam Đảo chủ yếu là măng sặt và măng nứa. Măng chỉ to bằng chuôi liềm và dài hơn gang tay là có thể chặt được.

Tam Đảo không có nắng gắt, lại mát lạnh, ẩm ướt nên nấm hương rất mau mọc. Nấm hương nhồi giò giã, nấu nước gà luộc, tôm he khô, cùng với bóng bì, thịt thăn, su hào thái mỏng ăn vừa thơm, vừa ngon, vừa bổ dưỡng.

Tam Đảo còn có đủ các điều kiện để nuôi hươu, nai, dê, cừu, thỏ, phát triển cá bống suối tự nhiên bằng cách đắp đập chăn nuôi, lấy sữa ong chúa, bọng ong non... Các thứ ấy do các đầu bếp lành nghề, chế biến thành các món ăn đặc sản Tam Đảo hấp dẫn du khách.

Chương trình họp Ban chấp hành Hội Văn hóa Doanh nhân Hải Phòng bàn về triển khai các chương trình hoạt động trong năm 2010 và công tác tổ chức nhân sự.

Chương trình giao lưu của Hội Văn hóa Doanh nhân Hải Phòng vui mừng được đón tiếp: Nhà thơ Trần Đăng Khoa, nhạc sĩ nhà thơ Nguyễn Trọng Tạo, nhà thơ Trần Nhương, nhà thơ Vương Trọng. Đặc biệt Đội văn nghệ của Tổng Công ty CN TT Nam Triệu đã trình diễn những tiết mục văn nghệ xuất sắc trong chương trình gặp gỡ giao lưu đầy ấn tượng này.

Ngày xuân trên Tam Đảo, thắm đượm tình bạn bè. Hội Văn hóa Doanh nhân Hải Phòng được tiếp thêm nhiệt huyết để thực hiện tốt những nhiệm vụ trong năm 2010 với nhiều sự kiện sẽ diễn ra đầy ý nghĩa phía trước.

CB

Gặp gỡ Doanh nghiệp miền Duyên hải

Tin chung Trackbacks (0) Bản in góp ý (82)   


Ngày 11/3/2010, Chi nhánh VCCI tại Hải Phòng phối hợp với Ủy ban nhân dân tỉnh Quảng Ninh tổ chức "Hội nghị Doanh nghiệp miền Duyên hải phía Bắc- 2010" tại Khách sạn Sài Gòn, TP Hạ Long, Tỉnh Quảng Ninh.
Tại Hội nghị, Công ty CP Tư vấn Thiết kế XD Đất Việt là một trong những doanh nghiệp được nhận bằng khen của Chủ tịch Phòng Thương mại và Công nghiệp Việt Nam; vì đã có thành tích xuất sắc trong hoạt động sản xuất kinh doanh và đóng góp tích cực vào sự phát triển cộng đồng Doanh nghiệp Việt Nam năm 2009.
CB xin có bài viết với tựa đề "Gặp gỡ Doanh nghiệp miền Duyên hải" giới thiệu đến các bạn không khí hội nghị ấn tượng vui vẻ trên.

GẶP GỠ DOANH NGHIỆP MIỀN DUYÊN HẢI


T
rong những năm qua mỗi độ xuân về, cùng với sự tham gia và hưởng ứng tích cực của cộng đồng doanh nghiệp vùng Duyên hải Bắc bộ, Chi nhánh VCCI tại Hải Phòng đã thường xuyên tổ chức "Hội nghị Doanh nghiệp miền Duyên hải" hàng năm với sự tham dự của hơn 1.000 đại biểu của doanh nghiệp và lãnh đạo các tỉnh thành địa phương trong vùng. Hội nghị đã trở thành diễn đàn quan trọng đối với doanh nghiệp cũng như đối với chính quyền địa phương và Phòng Thương mại và Công nghiệp Việt Nam. Nhằm tổng kết, đánh giá các hoạt động xúc tiến thương mại đầu tư, hỗ trợ phát triển doanh nghiệp của năm 2009 và đề ra phương hướng nhiệm vụ hỗ trợ phát triển doanh nghiệp khu vực miền Duyên hải phía Bắc năm 2010.

Ngày 11/3/2010, Chi nhánh VCCI tại Hải Phòng phối hợp với Ủy ban nhân dân tỉnh Quảng Ninh tổ chức "Hội nghị Doanh nghiệp miền Duyên hải phía Bắc- 2010" Tại Khách sạn Sài Gòn, TP Hạ Long, Tỉnh Quảng Ninh. Đến dự có TS Vũ Tiến Lộc- Chủ tịch Phòng Thương mại và Công nghiệp Việt Nam, đồng chí Lê Thị Bích Hường- Phó Chủ tịch HĐND tỉnh Quảng Ninh; đồng chí Nguyễn Văn Thành- Phó Chủ tịch UBND tỉnh Quảng Ninh; đồng chí Vũ Đức Long- Chủ tịch UBND TP Hạ Long; đồng chí Đan Đức Hiệp- Phó Chủ tịch UBND Thành phố Hải Phòng; đồng chí Nguyễn Thị Nghĩa- Phó Chủ tịch HĐND TP Hải Phòng; đồng chí Phí Văn Dực- Giám đốc Chi nhánh Phòng TM& CN Việt Nam tại HP... Hội nghị được đón tiếp đại diện lãnh đạo các Bộ, ngành trung ương; lãnh đạo Phòng Thương mại và Công nghiệp Việt Nam; Lãnh đạo các tỉnh, thành phố: Hải Phòng, Quảng Ninh, Hải Dương, Hưng Yên, Thái Bình,...; Lãnh đạo các Hiệp hội Doanh nghiệp, lãnh đạo các doanh nghiệp miền Duyên hải phía Bắc; Đại biểu các tổ chức hỗ trợ doanh nghiệp trong và ngoài nước, đại diện Đại sứ quán Indonesia, Thái Lan, Nam Phi, CH Séc,...; Đại diện các cơ quan thông tấn báo chí, truyền hình trung ương và địa phương.

Năm 2009 trong điều kiện khó khăn chung của cả nước, các tỉnh: TP Hải Phòng, Hải Dương, Quảng Ninh, Hưng Yên,... đã hoàn thành thắng lợi nhiệm vụ kế hoạch năm 2009, kinh tế xã hội ổn định, phát triển ở mức cao so với bình quân chung của cả nước. Cơ cấu kinh tế chuyển biến tích cực theo hướng tăng cơ cấu các ngành Công nghiệp và dịch vụ; quy mô, sức cạnh tranh và hiệu quả kinh tế của các tỉnh Duyên hải phía Bắc được nâng lên một bước. Những kết quả trên đây có một phần đóng góp tích cực của Phòng Thương mại và Công nghiệp  Việt Nam Chi nhánh Hải Phòng là những người luôn sát cánh đồng hành cùng Doanh nghiệp.

Với những kết quả đó năm 2010, Phòng Thương mại& Công nghiệp VN Chi nhánh Hải Phòng sẽ tập trung đẩy mạnh công tác đại diện cộng đồng DN- đội ngũ doanh nhân thu thập và tổng hợp ý kiến đề xuất với Chính phủ có những chính sách, giải pháp hỗ trợ DN. Đồng thời tiếp tục đẩy mạnh công tác tôn vinh DN - doanh nhân và liên minh cộng đồng DN Việt Nam, mở rộng quan hệ hợp tác quốc tế. Tập trung giúp các DN xây dựng mối quan hệ hiểu biết, chia sẻ khó khăn giữa người lao động và người sử dụng lao động, phát huy vai trò đại diện của giới sử dụng lao động....

Hội nghị là một diễn đàn để đại biểu doanh nghiệp đến dự nêu những khó khăn, vướng mắc trong quá trình hoạt động sản xuất, kinh doanh và dịch vụ, những mong muốn được chính quyền giải quyết hỗ trợ, giải quyết. Tại hội nghị có những phát biểu của các hiệp hội doanh nghiệp các tỉnh thành trong vùng, các doanh nghiệp tiêu biểu, doanh nhân thành đạt về những kỹ năng, kinh nghiệm quý báu trong quá trình triển khai hoạt động sản xuất, kinh doanh của đơn vị, cá nhân để đại biểu dự hội nghị tham khảo và học hỏi. Nhiều tham luận của các doanh nghiệp tại Hội nghị đã nêu bật thực trạng phát triển cũng như khó khăn của doanh nghiệp, những bất cập, bức xúc của doanh nghiệp đối với chính quyền địa phương, các ban, ngành liên quan, như: Vấn nạn giấy tờ; Cần bảo đảm sự minh bạch các chính sách để hỗ trợ doanh nghiệp phát triển; Thực hiện luật trách nhiệm bồi thường của Nhà nước bảo đảm quyền lợi chính đáng cho doanh nghiệp; Tiếp tục hoàn thiện chính sách thủ tục thuế, cải cách thủ tục hành chính tạo điều kiện cho doanh nghiệp phát triển; Sự đồng hành của các cơ quan công quyền với các doanh nghiệp là động lực phát triển...

Qua hội nghị, đã gợi mở cho VCCI Hải Phòng nhiều giải pháp tham mưu, đề xuất hiệu quả thiết thực. VCCI Hải Phòng đã tham mưu, đề xuất với Đảng, Nhà nước, các bộ, ngành liên quan, chính quyền địa phương nhiều giải pháp hỗ trợ tháo gỡ khó khăn cho doanh nghiệp trong bối cảnh ảnh hưởng suy thoái nền kinh tế toàn cầu, như: giải pháp điều hành tỷ giá ngoại tệ; thực hiện các giải pháp kích cầu của Chính phủ, vận động người Việt Nam dùng hàng Việt Nam; giải pháp đối với doanh nghiệp có nhiều lao động nữ; vấn đề thuế xuất nhập khẩu sắt thép, vận tải đường bộ, giấy phép lái xe container; giải pháp tháo gỡ khó khăn cho ngành vận tải biển...

Từng bước hỗ trợ các doanh nghiệp hội nhập sâu rộng nền kinh tế toàn cầu, năm qua VCCI Hải Phòng đã tổ chức 11 Đoàn doanh nghiệp đi khảo sát thị trường nước ngoài và Hội thảo giới thiệu thị trường trọng điểm tiềm năng như Nhật bản, Hàn quốc, Nga, Hoa Kỳ... Thông qua hoạt động này đã cung cấp cho các doanh nghiệp Việt Nam những thông tin bổ ích về thị trường, công nghệ của đối tác, từ đó có thể gặp gỡ trao đổi, khai thác và xúc tiến cơ hội đầu tư.

Về phía tỉnh Quảng Ninh tham dự hội nghị, đồng chí Nguyễn Văn Thành- Phó CT UBND tỉnh đã giới thiệu và giải đáp các câu hỏi của các DN đang tìm hiểu về môi trường thương mại, du lịch, đầu tư của QN. Hiện nay, QN được xác định là trung tâm nhiệt điện, trung tâm Công nghiệp, trung tâm SX cơ khí sản phẩm siêu trường, siêu trọng. Bên cạnh đó, lợi thế và sức phát triển của 3 cửa khẩu kinh tế trên bộ, các cảng biển đã và đang đưa QN thành tỉnh có tốc độ phát triển thuộc nhóm đi đầu cả nước. Cùng với đó những nỗ lực cải cách thủ tục hành chính, cơ chế chính sách ưu đãi nhà đầu tư sẽ đưa QN là một trong những tỉnh có môi trường đầu tư thuận lợi đối với các DN. Thông qua Hội nghị này, QN mong muốn được đón các DN thuộc miền Duyên hải phía Bắc đến tìm hiểu và nắm bắt được cơ hội đầu tư tại Quảng Ninh.

Trong khuôn khổ HN đã diễn ra lễ ký kết Thỏa thuận hợp tác giữa Chi nhánh Phòng Thương mại- Công nghiệp Việt Nam tại Hải Phòng với Báo pháp luật VN trong lĩnh vực tuyên truyền phổ biến pháp luật, bảo vệ quyền lợi hợp pháp chính đáng của doanh nghiệp và khen thưởng cho các DN có thành tích xuất sắc trong hoạt động kinh doanh và có đóng góp to lớn vào sự phát triển chung của khu vực trong thời gian qua.

Chủ tịch Phòng Thương mại và Công nghiệp Việt Nam đã trao bằng khen cho 70 tổ chức và các doanh nghiệp vì đã có thành tích xuất sắc trong hoạt động sản xuất kinh doanh và đóng góp tích cực vào sự phát triển cộng đồng Doanh nghiệp Việt Nam năm 2009.

Ban tổ chức Hội nghị đã tổ chức giao lưu giữa các đại biểu hội nghị thông qua tiệc chiêu đãi buổi trưa vui vẻ thân mật. Buổi chiều hội nghị tổ chức cho các Doanh nghiệp miền Duyên hải tham quan Khu danh thắng Yên Tử, Quảng Ninh. Cao vượt giữa vòng cung núi non điệp trùng vùng Đông Bắc, ngọn Yên Tử có đỉnh chìm trong mây trắng và trải mình dưới ngút ngàn mầu xanh cây lá. Thuở xa xưa, đây đã được coi là phúc địa và lưu truyền huyền thoại về một cõi bồng lai với bàn cờ, am thuốc tiên và pho tượng đạo sĩ An Kỳ Sinh hóa thạch.

Nhưng dấu mốc để Yên Tử khắc ghi trong lịch sử và thành sự kiện văn hóa của đất nước là năm 1299, Thái thượng hoàng Trần Nhân Tông từng trực tiếp cầm binh đánh tan giặc xâm lược, sau khi sắp đặt lại triều chính, ông xuất giá đến miền danh thắng này hành đạo. Bằng học vấn uyên thâm và kinh nghiệm từng trải, Trần Nhân Tông lĩnh hội thành tựu của các vị cao tăng đi trước, tiếp nhận những yếu tố tích cực của Phật giáo là từ bi, bác ái, khoan dung, bình đẳng, hướng thiện và loại bỏ mặt yếm thế, yên phận, bí hiểm, siêu thoát, sáng lập nên phái Thiền Trúc Lâm mang bản sắc riêng Việt Nam.

Các chùa chủ yếu ở Yên Tử là Giải Oan, Hoa Yên, Vân Tiêu và bia Phật phân bố từ thấp lên cao tương ứng với trần gian, lưng trời, cung trời và ngoài vũ trụ. Bên cạnh là các chùa Lân, suối Tắm, Bí Thượng, Cầm Thực, Long Động, Thiền Định, Một Mái, Bảo Sái và chùa Đồng cùng hệ thống tháp. Các nghệ nhân tài hoa đã sáng tạo những công trình kiến trúc phối cảnh hài hòa, dung hợp với không gian thiên nhiên hùng vĩ và thơ mộng. Trong rừng già hoang sơ, ầm ào thác đổ và vi vút gió reo. Qua hơn 700 năm, vẫn có thể hình dung diện mạo Yên Tử thời hưng thịnh của phái Thiền Trúc Lâm trong quá khứ. Yên Tử là cội nguồn của Phật giáo Việt Nam và là một điểm du lịch thật hấp dẫn.

Chia tay Yên Tử, ấn tượng Gặp gỡ Doanh nghiệp miền Duyên hải để lại trong lòng những người tham dự cảm nhận tốt đẹp trước một mùa xuân mới đang bắt đầu cho hành trình một năm.

CB

Chùm thơ Mùa xuân Tình yêu

Tin chung Trackbacks (0) Bản in góp ý (112)   


Chào mừng kỷ niệm 100 năm ngày Quốc tế Phụ nữ, chiều ngày 7.3.2010, CLB Thơ Văn hóa Doanh nhân Hải Phòng tổ chức chương trình Giao lưu thơ nhạc MÙA XUÂN TÌNH YÊU.
Tới dự có các đồng chí lãnh đạo Hội Văn hóa Doanh nhân HP, Ban Chủ nhiệm và Hội viên CLB Thơ VHDN. Đại diện các CLB: Thơ Việt Tiệp, Thơ Vĩnh Bảo, Thơ Vân Tra; CLB Quốc tế vũ DN; CLB Ảo thuật HP; CLB Hoa Biển; Các đồng chí phóng viên báo chí, NXB HP, Đài PTTH HP,... cùng tới chung vui.
Sau bài phát biểu khai mạc của Doanh nhân Nguyễn Ngọc Hiển, Chủ nhiệm CLB Thơ VHDN; Các đồng chí lãnh đạo Hội VHDN đã tặng hoa cho chị em phụ nữ tham gia chương trình giao lưu. Nhà thơ Minh Trí, Phó Chủ nhiệm CLB Thơ VHDN đã dẫn một chương trình giao lưu thơ, nhạc và ảo thuật đầm ấm, đặc sắc.
Sau đây, CB xin giới thiệu tới độc giả một số bài thơ tiêu biểu của các tác giả tham gia chương trình Giao lưu thơ nhạc MÙA XUÂN TÌNH YÊU.


Phạm Thanh Cải

MỜI

Em rót chén rượu cay
tay nâng, mời anh uống
vị tình đời say đắm
mãi ngọt ngào trên môi
đừng rót nữa người ơi
tôi đang say ngây ngất
men say từ ánh mắt
đã làm say tôi rồi


Minh Trí

PHẢI LÒNG

Thế là mình phải lòng nhau
hoa phải lòng đất đã lâu lắm rồi
son hồng thì phải lòng môi
mắt phải lòng mắt của người mình yêu
em bỏ đi suốt buổi chiều
bởi phải lòng cả những điều vu vơ
có người phải lòng giấc mơ
cho nên đến tận bây giờ mới yêu.


Lương Thế Phiệt

MANG NHỚ

Câu thơ anh viết hôm nào
tặng anh anh đã cất vào trong tim
thời gian cửa đóng im lìm
biết bao giờ mở vào tìm trả em
thế rồi thao thức đêm đêm
nằm nghe gió thở ngoài thềm lá rơi
có ai đánh cắp hồn tôi
giấu đi đâu để một trời hoang vu
giá còn có trái mù u
cho tôi cánh bướm giữa thu đậu vào
bây giờ em ở nơi nao
mà không mang nhớ trả vào hồn anh.


Thúy Ngoan

XIN ĐỪNG

Xin đừng nói nhớ làm chi
tuổi xuân đã cạn, tóc thì đã sương
thơ buồn như sợi chỉ vương
em ngồi khâu lại vết thương cuối mùa
bây giờ mặc kệ nắng mưa
ớt cay cũng ngọt, chát chua cũng cười
một lần trầu đã quệt vôi
một con đò vỡ, sóng dồi phía sau
người ta một bến còn đau
em mười hai bến sông sâu gãy chèo
bến nào cũng đứt dây neo
cuối chiều buộc chặt bến nghèo vào thơ


Đinh Thường

LẠT MỀM

Trăm năm vui cuộc xuân hoa
nữ- nam bình đẳng cửa nhà ấm êm
tình em như sợi lạt mềm
buộc anh đắm đuối giữa miền yêu thương


Nguyễn Cường

SA PA MÂY

Anh đi tìm em trong mây Sa pa
gió không thổi mà mây bay vội vã
bay về đâu - nơi cùng trời là núi
cả một đời, ta vô định sao em ?
đường quanh co lên dốc xuống đèo
từng bước nhỏ, mây theo anh lặng lẽ
như ngón tay lùa tóc em khe khẽ
bàn tay buồn cho sợi bạc lang thang
mây lơ lãng để mưa về núi lạnh
anh ngẩn ngơ - em hư ảo trong mây
trời Sa pa, sương khói giăng đầy
mang tình anh theo mây em trọn kiếp


Nguyễn Ngọc Phát

THÁNG GIÊNG

Bến nước sớm xuân em gánh nước
tới nụ tầm xuân buổi xuân về
tháng giêng má em hồng dậy lửa
trăng bập bùng lóng lánh cả sông quê
chỉ một trăng em làm đêm chờ đợi
nét mảnh mai xuân đến đẹp bất ngờ
anh níu sợi trăng mềm tìm đến
đêm tự tình hai đứa hóa câu thơ

TDN

NGUYÊN TIÊU RỪNG THIÊN VĂN

Tin chung Trackbacks (0) Bản in góp ý (114)   


Hưởng ứng Ngày thơ Việt Nam tại Hải Phòng lần thứ 8, chiều ngày 25/ 2/ 2010, tức ngày 12 tháng Giêng năm Canh Dần. Ban Quản lý Công viên Rừng Thiên Văn kết hợp với Cung Văn hóa LĐ HN Việt Tiệp tổ chức chương trình giao lưu thơ nhạc Nguyên Tiêu Rừng Thiên Văn.
Tới dự có các đồng chí lãnh đạo quận Kiến An, lãnh đạo Cung VH LĐ HN Việt Tiệp. Ban Chủ nhiệm cùng Hội viên hai CLB Thơ Việt Tiệp và CLB Thơ Thiên Văn xanh.
Tới dự còn có đại diện các CLB Thơ: NVH Trung tâm quận Kiến An, CLB Thơ Dương Kinh, CLB Thơ Dương Quan, CLB thơ Minh Đức, CLB Thơ Thái Sơn,... với đông đảo các bạn yêu thơ cùng phóng viên các báo đài trong thành phố đến ghi hình và đưa tin.
Sau bài phát biểu chào mừng của đồng chí lãnh đạo Công viên Rừng Thiên Văn, các CLB thơ đã lên tặng hoa và trao quà lưu niệm. Chủ nhiệm CLB Thơ Thiên Văn xanh đã phát biểu chính thức khai mạc Chương trình giao lưu thơ nhạc Nguyên Tiêu Rừng Thiên Văn.
Mở đầu chương trình, Thi đàn lắng nghe lại bài thơ "Rằm tháng giêng" của Hồ Chủ Tịch. Tiếp theo, nhà thơ Minh Trí đã dẫn một chương trình giao lưu thơ nhạc Nguyên Tiêu Rừng Thiên Văn vui vẻ đầm ấm.
Cát Biển trân trọng giới thiệu một số bài thơ tiêu biểu tham gia chương trình giao lưu thơ nhạc Nguyên Tiêu Rừng Thiên Văn tới độc giả.


Đinh Thường

GÕ CỬA VÀO XUÂN

Tháng Giêng gõ cửa vào xuân
Bần thần đứng trước bao lần non xanh.
Chồi xinh e ấp đầu cành
Mênh mang hương vị ngọt lành trái hoa.
Duyên em tươi tắn nõn nà
Bừng lên khúc hát gần xa rộn ràng
Bụi mưa trời rắc như sàng
Hạt cài mái tóc, hạt sang thăm nhà.
Người đi gõ cửa là ta
Vườn em đầy tiếng chim ca bổng trầm
Ngập ngừng... gõ cửa vào xuân
Bồi hồi say với thì thầm: Em đây!
Xuân em gió phả ngất ngây
Hồn ta man mác đong đầy tin yêu.


Trần Quốc Thành

TÌNH RỪNG

Vào rừng ghé lại quán em
Ngắt cành sim tím mọc bên chân đồi
Tháng tư hoa chúm chím cười
Tháng năm, tháng sáu chờ người hái hoa
Đồi cao đường dốc, cây xoà
Nắng vàng những nắng, chuông xa buông chiều
Nón em hứng gió tình yêu
A
nh hôn theo gió, thả điều ước mong
Hoa sim kẹp sách mấy bông
Cánh sim chưa héo, quán không thấy người

Tưởng rằng như thế chuyện chơi
Bao mùa trăng đến không nguôi nhớ rừng


Nguyễn Cường

THÁNG GIÊNG

Tôi đi tìm tháng Giêng
Đang ẩn hiện sau làn khói bạc
Lúa đồng xanh ngơ ngác
Bụi mưa len lén bay lên
Tháng Giêng như lời hò hẹn
Gọi mùa làm mới câu thơ
Quê hương tôi ngàn năm thương nhớ
Khoác lên mình màu áo tươi non
Tháng Giêng mở hội
Tiếng trống xưa dập dồn ký ức
Nắng lưng trời nhuộm biếc triền đê
"Người ơi người ở đừng về"
Bốn mùa luân lạc
Nhớ về bến quê
Cuộc sống trôi vèo năm tháng
Vẫn mải mê tìm niềm hy vọng tháng Giêng


Thu Hằng

VỊ XUÂN

Em ngỏ cửa trái tim
Vị ngọt len vào... tỏa sóng
Cây đào gom nỗi niềm một năm
Đợi phút giây khoe thắm
Và dịu dành anh đến
Nụ cười bỡ ngỡ, tinh khôi.
Phía mỗi tiếng cười, một bầu trời khát vọng
Khát vọng yêu thương dâng hiến
Em chống chếnh men mùa
Anh nói lời lá mới
Lời đầu cành líu ríu nõn xanh
Lâu đài tình yêu con đường phía trước
Em thành Hoàng hậu nồng đậm bình minh
Mang hương lửa tình
Anh- bỗng thành vị Vua trị vì trái tim hồng.


Lâm Thanh Sơn

CHIỀU TRÊN ĐỈNH ĐẤU ĐONG

Nơi xưa tên gọi Đấu đong đây
Triều Mạc đong quân ở núi này
Quân đứng, chim ngàn không chỗ đậu
Gươm khua, chỉ thấy áng mây bay.
Định đoạt cơ trời thành chuyện hão
Ngai vàng đâu dễ kẻ sang tay
Dương kinh một sớm tan tro bụi
Dựng nghiệp mười năm cháy một ngày.
Sườn núi cheo leo tầng đá dựng
Rừng thông chim chóc đậu muôn bầy
Con vua cháu chúa đi đâu hết
Còn lại ngàn năm với cỏ cây
Đấu đong quen lối quanh co dốc
Thần tích bia xưa phủ bụi dày
Anh dắt tay em lên đỉnh núi
Tình em nào thể Đấu đong đây


Hoàng Khôi

ĐÊM PHỦ LIỄN

Nếu từ xa ta dõi mắt nhìn
Ngôi sao nào cũng lung linh tỏa sáng
Nẩy nở trong ta bao điều lãng mạn
Tưởng chừng được chắp cánh bay
Phủ Liễn đêm đông lá trút rơi đầy
Đốm sáng ngang trời cứ bâng khuâng mãi
Kính Thiên văn níu không gian gần lại
Với trăng sao ta thỏa sức ngắm nhìn
Nét đẹp ngàn xưa như lẽ tự nhiên
Đã hiện nguyên hình thô sơ mộc mạc
Cũng vết tím bầm hình thù quái ác
Cũng u sầu tăm tối phía mặt sau
Nếu có ai mời du ngoạn trăng sao
Xin ngàn lần làm cánh chim trái đất
Từ bình minh đến hoàng hôn chìm khuất
Sải cánh tự do thỏa sức vẫy vùng.

NTRTV

Đầu xuân về đất Hà Nam

Tin chung Trackbacks (0) Bản in góp ý (116)   


Đầu xuân về đất Hà Nam


Từ thành phố Cảng có hai lối về đất Hà Nam, đó là đi đường 5 lên Hà Nội rồi xuôi về Phủ Lý; Hoặc đi đường 10 qua Thái Bình về với Hà Nam. Chúng tôi đã chọn phương án hai là đi đường 10 về với Hà Nam trong dịp đầu xuân mới Canh Dần này.

Hà Nam danh giá nhất ông Cò
Trông thấy ai ai chẳng dám ho.
Câu thơ của Tú Xương ám ảnh chúng tôi trên đường đi, nhưng thực ra danh nhân văn hóa nổi tiếng nhất Hà Nam là Nguyễn Khuyến. Trải hai mươi năm theo nghiệp khoa cử, Nguyễn Khuyến từng đỗ đầu ba kỳ thi Hương, thi Hội, thi Ðình, mà từ đây ông được gọi là "Tam nguyên Yên Ðổ". Trong tâm thế một nhà Nho, Nguyễn Khuyến bất lực trước việc đất nước bị người Pháp xâm chiếm. Không còn đủ sức tham gia chiến trận, ông đành bằng lòng trở về cố hương để bảo toàn khí tiết. Trở về quê nhà, Nguyễn Khuyến bộc lộ tiếng nói trào phúng gắn quyện với trữ tình. Một mặt, ông châm biếm sâu cay bọn quan lại gian tham, thói đạo đức giả, nhưng ông lại rất xao xuyến cảm thương những cuộc đời nghèo khó, giàu ân nghĩa, tình người. Ba bài thơ Vịnh mùa thu, Câu cá mùa thu, Uống rượu mùa thu của ông đã đạt tới đỉnh cao của dòng thơ đề vịnh, ngợi ca làng cảnh thôn quê Việt Nam. Để tôn vinh nhà thơ, tỉnh Hà Nam có giải thưởng văn học mang tên Nguyễn Khuyến được bình chọn 5 năm một lần. Ngay tại quê hương Trung Lương có trường trung học cơ sở Nguyễn Khuyến, năm 2000 công viên Nguyễn Khuyến ra đời ở thành phố Phủ Lý. Ở Hải Phòng có phố Nguyễn Khuyến, Nhà Xuất bản Hải Phòng nằm trên phố Nguyễn Khuyến là địa chỉ tin cậy của những người làm sách đất Cảng.

Dọc bờ sông Châu, Hà Nam, nhiều nơi nổi tiếng về trồng chuối ngự. Nhưng ngon nhất, vẫn là chuối ngự làng chiêm trũng Ðại Hoàng, Lý Nhân, Hà Nam. Làng Ðại Hoàng, đất của chuối ngự, cũng chính là làng quê của Nhà văn Nam Cao. Nghe kể, thời đi dạy học đi viết văn ở Hà thành, Nam Cao rất nhớ món chuối ngự làng mình. Ông đi chợ, gặp chuối ngự là mua về, để thơm nức mới thưởng thức, như nhớ về rặng tre, vườn chuối thân thương.

Hà Nam phía bắc tiếp giáp với Hà Nội, phía đông giáp với tỉnh Hưng Yên và Thái Bình, phía nam giáp tỉnh Ninh Bình, đông nam giáp tỉnh Nam Định và phía tây giáp tỉnh Hòa Bình. Từ thời các vua Hùng, đất Hà Nam nằm trong quận Vũ Bình thuộc bộ Giao Chỉ. Đến thời nhà Trần đổi là châu Lỵ Nhân, thuộc lộ Đông Đô. Tháng 4 năm 1965, Hà Nam được sáp nhập với tỉnh Nam Định thành tỉnh Nam Hà. Tháng 12 năm 1975, Nam Hà sáp nhập với Ninh Bình thành tỉnh Hà Nam Ninh. Năm 1992 tỉnh Nam Hà và tỉnh Ninh Bình lại chia tách như cũ. Tháng 11 năm 1996, tỉnh Hà Nam được tái lập. Hà Nam bao gồm thành phố Phủ Lý và 5 huyện: Bình Lục, Duy Tiên, Kim Bảng, Lý Nhân, Thanh Liêm. Huyện Kim Bảng nằm ở phía tây bắc của tỉnh Hà Nam, bao gồm thị trấn Quế, thị trấn Ba Sao và 17.

Hà Nam có nhiều điểm du lịch sinh thái khá hấp dẫn. Đó là Khu du lịch đền Trúc thờ vị anh hùng Lý Thường Kiệt và Ngũ Động Thi Sơn là quả núi năm hang nối liền nhau cách thành phố Phủ Lý 7 km. Chùa Long Đọi Sơn ở xã Đọi Sơn, huyện Duy Tiên, cách Phủ Lý khoảng 8 km về phía Bắc. Lễ hội Tịch điền Đọi Sơn năm nay diễn ra từ ngày 18 đến 20- 2 (tức mùng 5- 7 tháng Giêng năm Canh Dần) với nhiều hoạt động phong phú. Nghi lễ chính sẽ là Lễ Tịch điền Đọi Sơn, tái hiện huyền tích từ thời Thập đạo Tướng quân Lê Hoàn khi ông nhận thấy núi Đọi có vị trí chiến lược, quan trọng đối với Kinh đô Hoa Lư. Bên cạnh đó là lễ rước chân nhang Vua Lê Đại Hành từ Đền Lăng, xã Liêm Cần, huyện Thanh Liêm về xã Đọi Sơn, huyện Duy Tiên, lễ rước nước, lễ sái tịnh. Hội thi trang trí trâu cũng sẽ là một trong những hoạt động sôi nổi của lễ hội này. Điểm mới trong lễ hội năm nay là lễ trồng cây tại xã Đọi Sơn, có nhiều lãnh đạo Đảng, Nhà nước tham dự. Khu trung tâm du lịch thành phố Phủ Lý được xây dựng 2 bên dòng sông Đáy, giáp cửa sông Châu có khu du lịch bến thuỷ phục vụ du khách đi chùa Hương, Ngũ Động Sơn, chùa Bà Đanh, Hang Luồn. Hà Nam là tỉnh có nền văn hóa dân gian phong phú, thể hiện qua các điệu chèo, hát chầu văn, hầu bóng, ả đào, đặc biệt là hát dậm.

Chùa Bà Đanh còn có tên gọi khác là Bảo Sơn Tự thuộc làng Đanh Xá, xã Ngọc Sơn, huyện Kim Bảng. Chùa có diện tích gần 10 ha, được đánh giá là một trong những ngôi chùa đẹp và cổ kính nhất tỉnh Hà Nam bởi sơn thuỷ hữu tình nhưng vẫn bị mang cái tiếng "Vắng như chùa Bà Đanh". Theo những người cao tuổi trong thôn Đanh Xá, xưa kia khu vực này là một bãi đất bồi giữa ngã ba sông Đáy. Từ trên cao nhìn xuống nơi này có hình một con rồng đang quặn mình xả nước, chất đầy lau sậy, ban đêm nghe thấy cả tiếng hùm gầm. Chính vì cái thế đất ấy nên làng Đanh quanh năm lụt lội, dân nghèo khổ đói khát quanh năm. Nhiều người còn bỏ đi nơi khác tìm miền đất hứa với hy vọng đổi đời. Tương truyền trước kia vào thế kỷ thứ bảy, đây là một ngôi đền nhỏ thờ tứ pháp (Pháp Vân, Pháp Vũ, Pháp Lôi, Pháp Điện). Đến thời Lê Huy Tông (1675 - 1750), chùa được xây dựng đàng hoàng và to đẹp hơn. Một hôm, người già nhất trong thôn nói trong giấc mộng cụ thấy một người con gái trẻ đẹp hiện về truyền rằng dân làng muốn yên ổn làm ăn phải lập đền thờ. Đền vừa dựng xong được ít lâu, cây mít cổ thụ gần 1.000 tuổi bỗng dưng bị gió quật đổ. Dân làng Đanh lấy gỗ để tạc tượng và làm ngai để thờ người con gái đã về báo mộng cho dân làng. Chùa vừa thờ Phật vừa thờ Thánh và có tên là chùa Bà Đanh từ đó. Năm 1994, chùa Bà Đanh được cấp bằng Di tích Lịch sử cấp quốc gia.

Trả lời câu hỏi tại sao lại có câu nói "Vắng như chùa Bà Đanh", sư thầy Thích Đàm Đam giải thích: "Từ trước tới nay dân làng Đanh đều truyền tai nhau rằng ngôi chùa này rất linh thiêng, ai trái ý hoặc phỉ báng sẽ bị trừng trị... Vì thế khách thập phương không dám đến. Mặt khác chùa Bà Đanh ở một vị thế vắng vẻ không tiện đường giao thông, cũng như chưa có sự quan tâm, đầu tư đúng đắn của các cấp ban ngành địa phương". Sư thầy Thích Đàm Đam cho biết thêm mấy năm nay, du khách và các nhà nghiên cứu có về đây đông hơn, nhưng dường như họ chỉ tìm câu hỏi "Tại sao chùa Bà Đanh lại vắng?". Với vị thế đẹp, không gian thanh tịnh, chùa Bà Đanh được chính quyền xác định phải trở thành điểm đến của khách thập phương. Việc đưa khu di tích này trở thành khu du lịch đang là vấn đề quan tâm của tỉnh Hà Nam. Chùa Bà Đanh sẽ là một điểm nhấn quan trọng trong quần thể khu du lịch Tam Chúc Ba Sao, vốn đầu tư gần 2.000 tỷ đồng đang trong giai đoạn thi công và quần thể danh lam thắng cảnh Chùa Hương. Toàn bộ các hạng mục đã được tôn tạo và nâng cấp nhưng không mất đi kiểu dáng ban đầu. Bên cạnh đó, các tuyến đường dẫn vào chùa đã được làm mới. Cụ thể như hơn 2 km đường đê từ thị trấn Quế đã được đổ bê tông, cây cầu Bắc Sơn nối từ quốc lộ 21B qua sông Đáy sang chùa Bà Đanh đã được làm mới đẹp đẽ.

Đầu xuân Canh Dần, từ Hải Phòng về với Hà Nam, thêm yêu mảnh đất lịch sử và có nhiều nét văn hoá truyền thống quyến rũ này.

CB

Kiến trúc đất Cảng vào xuân

Tin chung Trackbacks (0) Bản in góp ý (72)   


HOẠT ĐỘNG HỘI KIẾN TRÚC SƯ HẢI PHÒNG

Trong không khí rạo rực đón chào xuân mới Canh Dần 2010, ngày 04/ 02/ 2010, Hội Kiến trúc sư Hải Phòng tổ chức buổi gặp mặt giao lưu toàn thể Hội viên và bầu đại biểu đi dự Đại hội KTS Việt Nam khoá 8. Đến dự chung vui với các Kiến trúc sư Hải Phòng, có KTS Nguyễn Thúc Hoàng- Phó Chủ tịch Hội KTS Việt Nam; KTS Phạm Thăng- Chánh VP Hội KTS VN, Ông Đinh Văn Giáp- Chủ tịch Hội Xây dựng Hải Phòng; Ông Đào Viết Tác- Chủ tịch Hội Môi Trường HP; Ông Nguyễn Ngọc Thành- Chủ tịch Hiệp hội Bất động sản HP; Ông Nguyễn Ngọc Thao- Phó Chủ tịch TT kiêm Tổng thư ký Liên hiệp các Hội khoa học kỹ thuật HP; Nhà biên kịch điện ảnh Tô Hoàng Vũ- Chủ tịch Hội LHVHNT HP; Hoạ sĩ Quang Ngọc- Phó Chủ tịch Hội LHVHNT HP; Nghệ sĩ ưu tú Nguyễn Đăng Toàn - Phó Chủ tịch Hội LHVHNT HP; Nhạc sĩ Ngọc Hải- Chủ tịch Hội Văn nghệ Dân gian HP; Nghệ sĩ Thuý Hậu- Phó Chủ tịch Hội Múa HP; Cùng toàn thể Ban chấp hành và các Kiến trúc sư Hội viên Hội Kiến trúc sư thành phố Hải Phòng. Đến dự và chung vui còn có các đồng chí phóng viên đài PTTH HP; Các nghệ sĩ đoàn Cải lương Hải Phòng.

Sau phần tuyên bố lý do và giới thiệu đại biểu của KTS Nguyễn Minh Trí- UVBCH, Chủ nhiệm CLB Kiến trúc Trẻ HP; KTS Võ Quốc Thái, Chủ tịch Hội KTS HP lên phát biểu tổng kết những hoạt động của Hội KTS Hải Phòng trong năm 2009 và đề ra hướng hoạt động năm 2010 của Hội KTS HP. Bài báo cáo nhấn mạnh:
Sau Đại hội VI (nhiệm kỳ 2008-2013) được tổ chức vào ngày 14/12/2008 với 9 uỷ viên (trong đó có 6 uỷ viên tham gia lần đầu) Ban chấp hành Hội KTS HP đã trực tiếp điều hành và tham gia các hoạt động sau: Tham gia Hội nghị BCH Hội Kiến trúc sư Việt Nam lần V- Khoá VII và Hội thảo kiến trúc Nông thôn Việt Nam tháng 12/2008 tại Ninh Bình. Đồng tổ chức Hội nghị BCH Hội Kiến trúc sư Việt Nam lần VI- khoá VII và Giao lưu giữa Hội KTS Hải Phòng với KTS Toàn quốc vào ngày 25/5/2009 tại Đảo Cát Bà. Tham gia Đại hội Hội LHVHNT Hải Phòng Khoá VII tháng 06/2009 và có 2 đồng chí tham gia BCH Hội LHVHNT Hải Phòng là KTS Võ Quốc Thái và KTS Nguyễn Minh Trí (KTS Nguyễn Minh Trí được bầu là uỷ viên Ban thường vụ Hội LHVHNT Hải Phòng khoá VII). Thành lập Đoàn Đại biểu dự Hội trại KTS trẻ Toàn quốc lần thứ III tại Buôn Mê Thuột. Qua kết quả Hội trại Chủ tịch hội KTS VN đã có QĐ số 93/QĐ-KT ngày 2/11/2009 công nhận ban điều hành các CLB KTS Trẻ Toàn quốc trong đó Hội KTS Hải Phòng có KTS Nguyễn Minh Trí tham gia. Tham gia Hội nghị BCH Hội KTS Việt Nam lần thứ VII và lễ trao giải thưởng Cuộc thi Nhà ở Nông thôn tại Hải Dương ngày 12/12/2009.

Hoạt động của các Chi hội Kiến trúc:
Chi hội Công ty HCDC có 27 hội viên. Năm 2009 Chi hội đã có một số hoạt động như: Dự thi Trụ sở Tập đoàn VSHIP-Singapo: 03 phương án. Dự thi Trung tâm Dịch vụ xổ số Hải Phòng tại Cát Bà: 01 phương án. Và một số công tác khác như Tham quan nước ngoài và một số đô thi trong nước, tham gia bài viết cho Tạp chí KTVN. Trong năm 2009 Chi hội này có 7 KTS bảo vệ Luận án Thạc sỹ tại Trường ĐHKT Hà Nội.
Chi hội Viện Qui hoạch có 16 hội viên. Đây là Chi hội có đặc thù chuyên làm công tác Qui hoạch của Thành phố và Tham mưu cho Sở Xây dựng và UBND Thành phố thực hiện chức năng Quản lý Nhà nước về Qui hoạch Xây dựng. Trong số 16 hội viên năm 2009 có 4 đ/c bảo vệ luận án Thạc sĩ đưa số Thạc sĩ KTS trong viện lên 8 đ/c. Năm 2009 Chi hội đã hoàn thành một số Đồ án lớn trọng điểm như: Điều chỉnh Qui hoạch chung Xây dựng Thành phố đến năm 2025 tầm nhìn đến năm 2050 được thủ tướng phê duyệt tại Quyết định số 1448/QĐ-TTG ngày 16/09/2009. Qui hoạch chi tiết các Thị trấn như Vĩnh Bảo Khu B cụm CN Tân Liên; Thị tứ Hoà Bình và Cụm CN Tiên Cường; Mở rộng hè đường Lạch Tray; Huyện Đảo Bạch Long Vỹ; Phường Nam Hải; Phường Hùng Vương; Phường Dư Hàng Kênh; Phường Kênh Dương; Phường Vĩnh Niệm; Khu CN Thị trấn Tiên Lãng mở rộng; Khu du lịch Xuân Đám- Hiền Hào- Cát Bà; Khu CN Nam Đình Vũ; Khu CN Thâm Quyến- An Dương; Tuyến đường liên phường Tràng Cát- Hải An... đã được UBND Thành phố phê duyệt. Các đồ án Qui hoạch chi tiết đã hoàn thành đang trình duyệt gồm: Qui hoạch khu CN và đô thị Bến Rừng.; Qui hoạch các điểm đấu nối Quốc lộ 5; QHCT Khu nhà ở thu nhập thấp tại xã An Đồng, An Dương; QHCT Khu CN Ngũ Phú; QHCT Khu CN Cầu Cựu; QHCT Cụm CN Đa Phúc- Hưng Đạo. Công tác hợp tác quốc tế: Kết hợp với tư vấn Saman Hàn Quốc lập hồ sơ QHCT 1/5000 Khu đô thị mới Bắc Sông Cấm giai đoạn I.
Chi Hội Sở Xây dựng có 17 hội viên với nhiệm vụ tham mưu cho Sở Xây dựng và UBND Thành phố về công tác Qui hoạch và Quản lý Đô thị được biên chế trong các tổ chức: Văn phòng Sở, TT Tư vấn QHXD, Công ty Kinh doanh nhà, Ban quản lý CTPT Đô thị, TT thẩm định.
Chi hội các Công ty tư vấn có15 hội viên, bao gồm nhiều công ty tư vấn như: Công ty A&D; Công ty CP TV Thiết kế XD Đất Việt; Công ty TVXD Tài nguyên môi trường; Công ty XD số 3... đều là các KTS trực tiếp tham gia các công việc thiết kế kiến trúc trên địa bàn thành phố.
Câu lạc bộ Kiến trúc Mỹ thuật trẻ Hải Phòng trong năm qua đã có nhiều chương trình hoạt động sôi nổi. Trưng bày triển lãm các tác phẩm kiến trúc mỹ thuật. Tham gia hội trại kiến trúc trẻ toàn quốc tại Buôn Ma Thuột. Tham dự chương trình gặp gỡ mùa thu và hội thảo kiến trúc nông thôn tại Chí Linh Hải Dương. Tham gia diễn đàn "Không gian văn hoá" do Đài phát thanh và truyền hình Hải Phòng dàn dựng. Tổ chức cho hội viên tham gia các chương trình giới thiệu ứng dụng vật liệu xây dựng mới trong công tác thiết kế đô thị.

Hướng Hoạt động của Hội KTS HP trong năm 2010: Tăng cường công tác tổ chức, phát huy vai trò của các uỷ viên BCH và các chi hội cơ sở, thực hiện công tác phát triển hội viên. Quán triệt phương hướng, mục tiêu, nhiệm vị và chương trình hành động của TW hội nhiệm kì VIII sẽ được thông qua tại Đại hội đại biểu toàn quốc khoá VIII (2010-2015) vào tháng 4 năm 2010. Với tư tưởng và định hướng cơ bản là bằng mọi nỗ lực, thúc đẩy đưa kiến trúc VN phát triển nhanh, đúng hướng, bắt nhịp với xu hướng phát triển của kiến trúc theo yêu cầu và khu vực. Tiếp tục tăng cường công tác tham mưu, tư vấn, phản biện XH trong lĩnh vực QHXD, kiến trúc đô thị và nông thôn góp phần thực hiện nghị quyết thành uỷ là từng bước xây dựng bản sắc kiến trúc Hải Phòng. Đẩy mạnh chất lượng công tác nghiên cứu, thiết kế kiến trúc, qui hoạch ở các đơn vị cơ sở của hội. Mở rộng quan hệ hợp tác trao đổi, học tập trong nước và quốc tế nhất là với TW hội và các trường ĐHKT, các hội tỉnh bạn cũng như các hội trong Liên hiệp VHNT HP. Các mối quan hệ quốc tế sẵn có như các Tập đoàn Samon Hàn Quốc, Bi KensaHa Nhật Bản, Sing ga po, Trung Quốc, Cộng hoà Pháp...

Ghi nhận những thành tích của giới Kiến trúc sư HP, Ủy ban Nhân dân thành phố Hải Phòng đã tặng bằng khen cho Hội Kiến trúc sư Hải Phòng vì đã có nhiều thành tích xuất sắc trong hoạt động chuyên môn góp phần hoàn thành nhiệm vụ chính trị năm 2009. Ông Tô Hoàng Vũ, Chủ tịch Hội LHVHNT HP đã lên trao bằng khen của UBND TP HP cho Hội KTS HP. Ông Tô Hoàng Vũ có bài phát biểu đánh giá cao những hoạt động của giới Kiến trúc sư Hải Phòng trong thời gian qua cũng như động viên khích lệ hoạt động chuyên môn và hoạt động xã hội của các KTS đất Cảng trước một mùa xuân mới.

Chuẩn bị cho đại biểu đi dự đại hội KTS Việt Nam khoá 8 tổ chức vào tháng 04 năm 2010. Hội nghị đã bầu 11 đại biểu đi dự đại hội KTS Việt Nam khoá 8. KTS Nguyễn Thúc Hoàng- Phó CT Hội KTS VN đã có bài phát biểu ý kiến chỉ đạo hội nghị và chúc mừng năm mới Hội KTS Hải Phòng.
Trong chương trình tiệc giao lưu và sinh hoạt văn nghệ, các KTS đất Cảng cùng các văn nghệ sĩ và các nhà khoa học thành phố hoà chung lời ca tiếng hát, những vần thơ và những câu chuyện vui chung quanh hoạt động kiến trúc đời sống.

Một năm mới đã về trên thành phố Hải Phòng quê hương, các Kiến trúc sư đã chuẩn bị sẵn sàng cho mình một năng lượng mới đầy tình yêu nghệ thuật và trách nhiệm trong công tác thiết kế xây dựng công trình trên đất Cảng vào xuân.

Cát Biển

Thành phố và những cây cầu

Tin chung Trackbacks (0) Bản in góp ý (64)   


Hải Phòng là thành phố có rất nhiều những dòng sông đổ ra cửa biển. Và chính những dòng sông đó đã kiến tạo lên dáng vóc đô thị Hải Phòng ngày hôm nay. Đã có sông ắt phải có cầu, một nhà thơ từng viết: Và đôi bờ bên bồi, bên lở/ Cầu hoá thành lời xin lỗi của dòng sông. Hôm nay, CB xin giới thiệu đến các bạn bài viết của Tuấn Nguyễn, một tác giả Hải Phòng về những cây cầu trong lòng phố Cảng.

Thành phố và những cây cầu

Bởi những con sông cứ rủ nhau chảy vào lòng phố xá nên thành phố Hải Phòng có nhiều lắm những cây cầu. Ði đâu cũng thấy những cây cầu uốn mình như những cánh tay vươn dài, tạo thành vóc dáng khoẻ khoắn, phóng khoáng của một thành phố nơi đầu sóng ngọn gió.

Những ai từng gắn bó với Hải Phòng, có lẽ ít nhiều đều mang trong mình dấu ấn về những cây cầu. Ðiểm lại mới thấy, những cây cầu là lịch sử của Hải Phòng, gắn liền với bao thăng trầm, đổi thay của thành phố. Không chỉ nối đôi bờ sông, những cây cầu còn nối liền quá khứ - hiện tại của mảnh đất này. Chẳng hạn: hiện thân cho quá khứ xa xôi là chiếc cầu Quay với những thanh rầm sắt cũ kỹ nằm đó vài chục năm và cái tên luôn gợi lên chuyện cũ: ngày xưa cầu có thể chuyển động quay ra, quay vào cho tàu bè qua lại trên khúc sông này.

Gần với thời điểm hiện tại hơn chút nữa là cây cầu Lạc Long mới khang trang thay thế cho cây cầu cũ nhỏ bé bắc qua dòng Tam Bạc và khu phố cổ lam lũ một thời. Còn gắn liền với hình ảnh một Hải Phòng hiện đại trong thế kỉ 21 có cầu Bính, cầu Kiền... những cây cầu dây văng hiện đại nhất, nhì miền Bắc, đang nghiêng mình gánh vác công việc của những chuyến phà vất vả chinh phục dòng sông Cấm lâu nay...

Thế đấy, những cây cầu thực sự là minh chứng sống động về cuộc sống không gian của thành phố qua các thời kỳ. Những "cánh tay" ấy mọc lên mỗi ngày một nhiều và ngày càng dài rộng mà mừng, bởi điều ấy chứng tỏ thành phố thân yêu đang vươn vai lớn dậy không ngừng...

Với ai, kỉ niệm về những cây cầu đôi khi giản đơn nhưng thật khó quên. Ðó là những chiều hè gió lộng, được đứng bên thành cầu Bính ngắm thành phố từ trên cao. Trong ánh hoàng hôn đỏ rực, thành phố thật thơ mộng và thanh bình với những mái ngói lô xô, hàng cây xanh mướt và những nhánh sông uốn lượn chảy quanh..

Hay những buổi tối thư thả dạo xe trên phố, ngắm ánh đèn đường đang thẳng tắp bỗng uốn lượn theo hình dáng những cây cầu, rồi hắt xuống dòng sông, tạo thành vũ điệu ánh sáng kỳ ảo, lung linh. Có những lúc phải tạt vào gầm cầu Vượt trên đường Lạch Tray tránh cơn mưa bất chợt. Lúc ấy, cây cầu trở thành mái vòm vững trãi, che chở cho bao người qua phố. Những buổi thuỷ triều dâng ngập con phố nhỏ bên dòng Tam Bạc, lại nhớ cái thời thơ dại cùng đám bạn liều lĩnh trèo lên thành cầu Lạc Long rồi nhảy xuống tắm sông...

Giờ đây, mỗi lần đi xa về, nhìn thấy bóng dáng những cây cầu vượt quen thuộc ở cửa ô thành phố, trong ai lại ngập tràn cảm giác thân thương như đã gặp lại người thân.

Tuấn Nguyễn

Thơ bên dòng sông Cấm

Tin chung Trackbacks (0) Bản in góp ý (70)   


Chiều ngày 28/01/2010, trong Quán Âm nhạc, bên dòng sông Cấm mơ mộng; CLB Thơ Văn hoá Doanh nhân Hải Phòng đã tổ chức chương trình Giao lưu Thơ Nhạc đón chào năm mới 2010. Tới dự có các đồng chí lãnh đạo Hội Văn hoá Doanh nhân Hải Phòng. Đại diện CLB Hoa Biển, CLB Thơ Làng Văn hoá Vân Tra, CLB Quốc tế vũ DN, CLB Ảo thuật HP, Báo Hải Phòng,... Cùng hơn 40 Hội viên CLB Thơ Văn hoá Doanh nhân Hải Phòng.
Sau bài phát biểu tổng kết hoạt động năm 2009 và đề ra phương hướng hoạt động năm 2010 của Doanh nhân Nguyễn Ngọc Hiển, Chủ nhiệm CLB Thơ Văn hoá Doanh nhân; Nhà văn Đình Kính, Chủ tịch Hội Văn hoá Doanh nhân đã có bài phát biểu chào mừng. Tiếp theo Nhà thơ Minh Trí, Phó Chủ nhiệm CLB Thơ Văn hoá Doanh nhân HP đã dẫn một chương trình sinh hoạt thơ nhạc đầm ấm.
Sau đây CB xin giới thiệu một chùm thơ đọc bên dòng sông Cấm của các tác giả tham gia giao lưu trong chương trình trên.

THƠ BÊN DÒNG SÔNG CẤM

Ngọc Hiển

NHỊP CẦU MÙA XUÂN

Cái gì cũng của em thôi
cả núi sông, cả đất trời và anh
cái gì cũng của riêng mình
cả mùa xuân cả biển tình mênh mông
tình yêu là nhịp đường vòng
mỗi đoạn cua, mỗi tấc lòng lo âu
tình yêu là phép nhiệm mầu
để anh nối lại nhịp cầu yêu thương

Lương Thế Phiệt

SÔNG QUÊ

Ta về sông cỏ ngậm sương
cánh cò nhặt nắng còn thương quê nghèo
nước từ đâu nước gieo neo
thuyền từ đâu một mái chèo bơ vơ
hỏi xem chốn cũ bây giờ
còn ai vật lộn bến bờ sông quê
và ai cúi mặt khi về
những ai ăn cháo rồi chê bát sành
đồng làng vẫn cứ ngát xanh
đường cày lật đất còn tanh máu người
thị thành vẫn một chốn chơi
một cơn cốc chén một đời nông dân
sông quê giờ đã cạn dần
đồng trong ngoài bãi mấy lần đổi thay
nói lời như mượn như vay
giữa trưa vọng tiếng điếu cày hụt hơi

Minh Trí

NGOẠI VI

Những con đường chất tải nắng gió miền sông
cho tôi dư vị ngạt ngào sương khói
cho bãi sú vật mình ra biển
hanh hao nỗi niềm con cá, con tôm
tôi neo ở ngoại vi ngôi nhà nhỏ
để chiều chiều nghe gió nghe mưa
đón nỗi buỗn từ muôn con sóng
dạt dào nỗi đón đưa
những vò rượu góc nhà nhớ bạn, nhớ phố
nhớ cơn say vào tranh
nhớ mắt hiền lâu ngày xa vắng
và gió tóc mong manh
đón cơn mưa không vô tình để nhớ
đón buổi chiều yên tĩnh ngoại vi
tôi là cây neo mình bãi sú
biết miền sông sẽ nói điều gì.

Vũ Quốc Thân

ĐỢI

Trăng tàn thu đợi nhớ em
chén tình này cạn khát thèm ngày xưa
nhớ chiều đôi mắt mùa mưa
ướt nhoè đẫm lệ gió đưa nắng chiều
đời anh khổ một chữ yêu
thế rồi để lẻ cánh diều bơ vơ
từng đêm thức đợi với chờ
đi trong cõi mộng bao giờ gặp nhau.


Phạm Thanh Cải

NHÀ TÔI

Về nhà
chiều đổ bóng qua
khép ngày
mưa trút
nền nhà lênh lang...
mưa rơi
lộp bộp trên màn
ngủ rừng
tưởng vậy
hóa gian nhà mình....


Đinh Thường

CÒ LẺ

Cò ơi, một nửa đi đâu
mà mày đơn lẻ buồn rầu bến sông
về đi mà tránh mùa đông
kiếm lấy tấm chồng cho nó có đôi
mai ngày đàn đống sinh sôi
cả nhà vui vẻ quãng bồi bến sông
về đi mà kiếm tấm chồng
đừng cô quạnh thế đau lòng thơ tao.

Hoàng Khôi

EM MÙA XUÂN

Khi chạm vào tay em
biết mùa xuân đang đến
bóng dáng hư vô hiển hiện
lấp đầy khoảng trống bấy nay
khi tay trong tay
mùa xuân xà vào tận cửa
em cận kề, đau còn xa xôi nữa
bàng hoàng tỉnh giấc mơ say
có em mùa xuân này
như trong tay mùa xuân vĩnh cửu
điều giản dị mà sao anh không hiểu
em mùa xuân.

Đỗ Bá Cung

EM TÔI

Dòng đời xuôi ngược long đong
vai gầy em gánh nặng cong đường chiều
thân tằm rút ruột để yêu
cánh chim mê mải trải nhiều bão giông
chân trần bước vẹt bờ sông
đường cày vặn cả cánh đồng nghiêng theo
nửa đời vất vả gieo neo
con nằm ngóng mẹ ngặt nghèo tiếng ve
lời ru ướt đẫm chân tre
mồ hôi nước mắt cày xè hàng mi
lãng quên cả tuổi đương thì
đôi môi cũng vội cả khi em cười

Nguyễn Ngọc Thịnh

BẾN

Sóng lăn tăn, thuyền chống sào
cây đa toả nắng neo vào bến sông
dãi dầu nắng hạ mưa dông
chia cùng nhau nỗi ngóng trông sớm chiều
tròn trăng có phải vì yêu
chờ em xuống bến ngỏ lời lứa đôi
năm mươi năm bước nẻo đời
tôi về làm khách quê tôi, một thời
cây đa già vẫn xanh tươi
rễ bành chiếc ghế đợi người hôm qua
em, người xưa, em, người qua
neo tôi lại bến quê nhà, ngẩn ngơ.

TDN

Đất Cảng chiều cuối đông

Tin chung Trackbacks (0) Bản in góp ý (90)   


ĐẤT CẢNG CHIỀU CUỐI ĐÔNG

Ghi chép của Cát Biển

Sau những hò hẹn và commen, chiều thứ sáu ngày 22 tháng 1 năm 2010, nhóm anh em blogger Sài Gòn đã về đến đất Cảng.

Làng văn hóa Vân Tra, Hải Phòng chiều cuối đông được phủ một màn mưa mỏng như tấm khăn voan buông nhẹ xuống mặt hồ. Ngôi nhà thủy tạ bồng bềnh sóng nước sáng bừng dòng chữ: "Chào mừng họp mặt nhóm blogger thành phố Hồ Chí Minh và Hải Phòng".

Và kìa, anh em blogger Sài Gòn đã đến, từ trong ôtô bước ra là Nhà thơ Hoa Huyền, Nhà văn Hoàng Đình Quang, Luật sư- Nhà báo Phương Hà,... Phía Hải Phòng có Nhà văn Đình Kính, Kiến trúc sư- Nhà thơ Minh Trí (Cát Biển), Nhà thơ Lương Thế Phiệt, Nhạc sĩ Đắc Long, Nhà thơ Đỗ Bá Cung, Nhà thơ Đinh Thường,...

Gặp nhau trong diễn đàn ảo đã lâu, nay gặp nhau thật sự trong đời, ai cũng có cảm giác hồi hộp và mừng mừng tủi tủi. Những cái bắt tay ấm nồng, những hỏi han thân mật. Blogger Lương Thế Phiệt vốn là cán bộ huyện An Dương, nay là Trưởng làng văn hóa xã Vân Tra say sưa giới thiệu với các bạn về mảnh đất quê hương đầy quyến rũ của mình. Không gian cuộc gặp gỡ hôm nay do anh thiết kế thật hợp tình, hợp cảnh. Anh đã xuất bản tập thơ "Thức với miền quê" với những câu thơ thật thấm thiết: Người quê hát một lời quê/ Rạ rơm cũng nặng lời thề thuỷ chung...

Những ly rượu quê rót lên đầy thương mến, mọi người cùng chúc mừng và uống cạn cho vợi bao nhớ nhung xa cách đến với ngày hôm nay. Nhạc sĩ Đắc Long ôm ghi ta say sưa hát những bài ca trữ tình và những bản nhạc do chính anh sáng tác: Có người phải lòng giấc mơ/ Cho nên đến tận bây giờ mới yêu... (Phải lòng- nhạc: Đắc Long, thơ: Minh Trí)

Blogger Hoa Huyền có thật nhiều kỷ niệm với Hải Phòng, vợ anh là con gái đất Cảng. Hoa Huyền sinh ra ở đất nhãn Hưng Yên, hiện nay gia đình anh sinh cơ lập nghiệp trong thành phố Hồ Chí Minh. Về với Hải Phòng, Hoa Huyền tâm sự như anh đang về với quê hương thứ hai của mình: Xa quê trĩu nặng lòng nhung nhớ/ Chốn ấy trong lòng mãi ngóng trông...

Nhà văn Đình Kính hiện vừa là Chủ tịch Hội Nhà văn Hải Phòng, vừa là Chủ tịch Hội Văn hóa Doanh nhân Hải Phòng. Công việc bộn bề là vậy, nhưng không chỉ sáng tác nghệ thuật tích cực mà anh luôn dành thời gian cho bạn bè văn chương và... khiêu vũ. Có lần đang lúc công việc bộn bề, mọi người không biết Đình Kính đi đâu, gọi di động không được. Tìm mãi, thì chợt thấy anh đang ngồi thiền trong... blog Hoàng Đình Quang. Thì ra buổi chiều Đình Kính bay vào Sài Gòn, nhậu xong thì tối ấy ngồi thiền trong nhà Hoàng Đình Quang và bị "chộp hình" đưa tắp lự lên blog cho anh em Hải Phòng "tìm thấy", thế mới hay thông tin từ blog nhạy biết chừng nào.

KTS- Nhà thơ Minh Trí là Giám đốc Công ty Đất Việt. Mơ ước được gặp gỡ và giao lưu với các bạn blog đã lâu, nay mới có dịp hàn huyên tâm sự. Những kỷ niệm ùa về trong những entry, từng commen của bạn bè thương mến. Đúng lúc này, chị Bạch Dương từ Hà Nội gọi điện về trò chuyện thân mật với anh em blogger. Ngày mai là ngày vui của gia đình chị, và cũng là ngày anh em blogger gặp nhau trong đám cưới con gái chị Bạch Dương.

Luật sư- Nhà báo Phương Hà vừa bay từ Hàn Quốc về tới Hà Nội và đi ngay cùng đoàn xuống giao lưu với Hải Phòng. Những câu thơ lục bát anh viết đau đáu tình quê tình người: Tóc giờ trắng khói thuốc lào/ Đời giờ trắng giấc chiêm bao mất rồi... Và: Oan khiên nghiêng ngả đứng nằm/ Bao nhiêu số phận tháng năm trụi trần/ Bạc tình nặng đến ngàn cân/ Một giây sấp ngửa mấy lần âm dương...

Nhà thơ Đinh Thường hiện là trung tá biên phòng cảng Hải Phòng. Năm qua anh xuất bản tập thơ "Hoa dã quỳ", gần đây nhất anh vừa nhận giải A cuộc thi thơ về Người lao động đất Cảng do Cung VH LĐHN Việt Tiệp tổ chức. Anh thường xuyên vào mạng vnweblog và viết commen cho các blogger.

Blogger Hoàng Đình Quang tâm sự, anh chính gốc quê Đồ Sơn, Hải Phòng. Họ Hoàng Đình của anh ở Đồ Sơn nổi tiếng huấn luyện trâu chọi và mỗi khi: Dù ai buôn đâu bán đâu/ Mùng chín tháng tám chọi châu thì về... thì thường là họ Hoàng Đình nhà anh có trâu lọt vào trận chung kết. Anh sôi nổi mạn bàn về blog và những xử lý kỹ thuật trên trang blog. Có thể thấy trang blog Hoàng Đình Quang là một trong những trang blog đẹp và phong phú về hình thức cũng như nội dung nhất trên vnweblog.

Nhà thơ Đỗ Bá Cung hiện là Chủ nhiệm CLB thơ Làng văn hóa Vân Tra. Người làng Vân Tra yêu thơ lắm, có thể ví như Làng Chùa yêu thơ ở Hà Tây vậy. Mỗi khi Hội làng, ngày lễ Tết, CLB Thơ Làng văn hóa Vân Tra sinh hoạt thơ sôi nổi. Thật đông bạn bè thi hữu bốn phương về làng tham dự, một phần cũng vì tính hiếu khách, yêu thơ của người làng Vân Tra.

Thời gian trôi qua thật nhanh và màn đêm đã buông chùng mặt hồ làng Vân Tra. Rượu ngon bạn hiền với những món ăn quê mùa hấp dẫn hòa cùng những câu thơ bài hát của các blogger trong ngày gặp gỡ. Tất cả lặng đi khi anh Hoàng Đình Quang bật điện thoại di động cho mọi người nghe bài hát về quê hương Cửa Lò, (lời: Phương Hà- nhạc: Hoàng Đình Quang).

Vào thăm nhà bloggr Lương Thế Phiệt, một ngôi nhà kiến trúc mới an khang với những trang trí đẹp chứng tỏ gu thẩm mỹ về văn hóa Việt của chủ nhân. Gia đình anh đón đoàn thật chu đáo và có nhã ý mời đoàn nghỉ lại đêm nay. Nhưng một phần vì anh đang phải lo việc hiếu, một phần các bloggre Sài Gòn muốn vào lòng phố Cảng, nên Minh Trí và Đinh Thường đảm nhiệm việc chuẩn bị giấc ngủ ngon cho các blogger Sài Gòn ở đất Cảng đêm nay.

Chia tay Làng văn hóa Vân Tra, đoàn xe ôtô đưa các blogger Sài Gòn và Hải Phòng vào thăm phố Cảng. Thành phố vào đêm lên đèn với lung linh sắc màu, ôtô đi qua đại lộ Lê Hồng Phong, một trong những đại lộ đẹp nhất Hải Phòng hiện nay. Qua trung tâm thành phố, đoàn dừng lại ở Nhà khách Ủy ban. Một bàn nước được chuẩn bị trong hầm trà với những câu chuyện về đất Cảng xưa và nay thật rôm rả.

Cuộc vui chừng như vui hơn khi có sự xuất hiện của blogger Lâm Hải Phong. Lâm Hải Phong vốn sống và làm việc ở Ba Lan, anh về Hải Phòng được mấy năm nay và là một trong những blogger đầu tiên của mạng vnweblogs. Anh vui vẻ thông báo, sau một thời gian kiên trì rèn luyện, các con anh đã nói thành thạo tiếng... Việt. Cháu trai lớn nhà anh hiện đang là học sinh giỏi trường Thái Phiên và là một lớp trưởng năng nổ.

Rồi sự có mặt góp vui của các cấp chỉ huy bộ đội biên phòng cảng Hải Phòng. Sự xuất hiện góp vui của vợ chồng doanh nhân Ngô Thai Sắc. Hầm trà như được hâm nóng lên trong cái lạnh dầm dề của mưa bụi ngoài trời đêm.

Chia tay các blogger Sài Gòn- Hải Phòng trong bao niềm yêu mến. Hẹn những cuộc gặp gỡ giao lưu thú vị từ thế giới ảo bước ra cuộc đời thực đầy tình cảm. Và dường như mọi người đều cảm nhận thấy cuộc đời còn những ý nghĩa và thân thương biết chừng nào...

CB

Doanh nhân xưa đất Cảng

Tin chung Trackbacks (0) Bản in góp ý (80)   


DOANH NHÂN XƯA ĐẤT CẢNG


Nhân chuyến anh Ozi, Việt Kiều Úc về thăm Hải Phòng. Cát Biển có trò chuyện và mạn bàn với anh Ozi về các Doanh nhân Hải Phòng xưa như: Bạch Thái Bưởi, Nguyễn Sơn Hà, Vạn Vân, Phạm Văn Phi, Quảng Thịnh, Cát Tường, Lê Văn Thược,... Nay Cát Biển xin có một bài viết kể về các Doanh nhân xưa đất Cảng tặng anh Ozi và các bạn tham khảo. Hy vọng anh Ozi và các bạn tham gia ý kiến để có thể kể tiếp câu chuyện về Doanh nhân xưa đất Cảng; Và sau đó là câu chuyện về Doanh nhân đất Cảng ngày nay nữa
.

Bạch Thái Bưởi- Ông vua tàu thuỷ


Ông Bạch Thái Bưởi sinh năm 1874 ở Yên Phú, Thanh Trì, Hà Nội. Do tư chất thông minh, lại ham học hỏi cái mới nên Bạch Thái Bưởi sớm thông thạo tiếng Pháp và đã được nhận làm Ký lục cho một hãng buôn của người Pháp. Năm 1894, Bạch Thái Bưởi chuyển sang làm cho một hãng Thầu công chính. Năm 1909, Bạch Thái Bưởi đã thuê lại của A. Marty, một chủ hãng tàu thủy Pháp ở Bắc Kỳ, ba chiếc tàu: Phi Phụng, Phi Long và Khoái Tử Long. Chỉ 7 năm làm vận tải thủy, đến 1915, ông mua được cả xưởng đóng tàu và sửa chữa tàu thủy của A.Marty. Vậy là ông đã chủ động hoàn toàn, từ sửa chữa tàu, đóng mới tàu và chạy tàu.

Năm 1916, tại Hải Phòng, Bạch Thái Bưởi đã khai trương một Công ty lừng danh "Giang hải luân thuyền Bạch Thái Bưởi Công ty", có cờ hiệu riêng màu vàng in hình mỏ neo và 3 ngôi sao đỏ. Công ty Bạch Thái Bưởi có hơn 40 tàu thủy và sà lan chạy trên các tuyến sông Bắc Kỳ, miền Trung và Nam Kỳ; Còn có một số tàu viễn dương, chạy tới Hồng Kông, Trung Quốc, Philippin, Singapore, Nhật Bản... Công ty lớn có hơn 1400 người.Trong kinh doanh, Bạch Thái Bưởi rất chú trọng công tác tiếp thị. Mỗi tuyến đường thủy mở ra, ông đều cho đăng quảng cáo trên báo chí, đặc sắc nhất là ông hay dùng những bài thơ quảng cáo khiến dân chúng dễ nhớ. Như tuyến đường thủy đi Chùa Hương, ông cho đăng bài thơ có những câu:
Sông Phủ Lý gần kề cạnh bến
Thuyền hỏa xa vừa đến thời đi
Chèo Lan trỏ nẻo Đục Khê
Lại từ Bến Đục đua về Hà Nam
....

Tàu của Công ty Bạch Thái Bưởi hết sức sạch sẽ và an toàn trong hành trình do được người thợ đóng tàu chất lượng cao ngay từ Xưởng đóng và sửa chữa tàu Cửa Cấm, bên bờ sông Tam Bạc. Tại Xưởng có gần 900 công nhân làm việc. Kỹ thuật sửa chữa và đóng tàu của Xưởng này, đương thời là một niềm tự hào của người Việt Nam. Năm 1916, Xưởng tiến hành nối dài chiếc tàu Khoái Tử Long bằng cách cắt đôi con tàu rồi nối thêm một khúc giữa dài 7,80 mét, năm 1919 lại nối dài tàu Phố Lu thêm 7,20 mét... Thành công xuất sắc nhất là sự kiện đóng mới con tàu Bình Chuẩn trọng tải 600 tấn, hạ thủy ngày 7/9/1919. Tàu Bình Chuẩn khởi chạy ngày 20/8/1920, chuyến đường thuỷ xuyên Việt từ Hải Phòng đi Sài Gòn, có ghé qua các bến cảng Bến Thủy, Đà Nẵng, Quy Nhơn.

Ngoài kinh doanh vận tải thủy, Bạch Thái Bưởi còn dùng vốn đầu tư vào các ngành khác như: khai thác mỏ, bất động sản,... trong đó có đầu tư làm nhà in "Đông Kinh ấn quán" và xuất bản tờ "Khai hóa Nhật báo" với mục đích cổ động mạnh mẽ phong trào doanh nghiệp của người Việt Nam... Tiếc thay, cuộc sống của con người tay trắng làm nên sự nghiệp lớn đã không được dài lâu, Bạch Thái Bưởi qua đời ngày 22/7/1932 tại Hải Phòng. Có thể thấy Bạch Thái Bưởi là nhà doanh nghiệp Hải Phòng nói riêng và Việt Nam nói chung hiểu sâu sắc sức mạnh của tình cảm dân tộc, và ông đã thành công.


Nguyễn Sơn Hà- Chủ hãng sơn uy tín


Ông Nguyễn Sơn Hà quê Quốc Oai, Sơn Tây, nhưng sinh ở Hà Nội năm 1894. Làm thư ký cho hãng sơn dầu nổi tiếng Sauvage Cottu, Nguyễn Sơn Hà lẳng lặng học nghề làm sơn dầu với quyết tâm sẽ gây dựng cuộc đời bằng nghề này. Khi đã nắm được những bí quyết cơ bản của nghề sản xuất và kinh doanh sơn dầu, ông xin thôi việc. Ông bán chiếc xe đạp, lấy tiền làm vốn, mở một cửa hàng nhỏ nhận việc quét vôi, quét sơn, kẻ biển. Bề ngoài là vậy, nhưng trong nội bộ là lẳng lặng chế thử sơn dầu... Cuối cùng, Nguyễn Sơn Hà đã thành công!

Đầu những năm 30 của thế kỷ XX, ở Hải Phòng, hiệu sơn dầu của Nguyễn Sơn Hà đã xuất hiện và dám cạnh tranh với các hàng sơn của người Pháp và người Hoa. Với giá thành hạ, chất lượng tốt, mau khô và bóng đẹp, sơn của Nguyễn Sơn Hà ngày càng được khách hàng ngoài Bắc, trong Nam tín nhiệm. Với những mặt hàng phong phú như sơn Résistanco A- B dùng cho sơn xe đạp, sơn Durolac để sơn ôtô, sơn Ideal dùng sơn các vật dụng thông thường..., sau một thời gian ngắn, sơn của Nguyễn Sơn Hà đã cạnh tranh được với cả sơn của hãng Sauvage Cottu, sơn Ripholin nhập từ Pháp sang.  

Nguyễn Sơn Hà trở thành niềm tự hào của người Việt Nam, từ tay trắng làm nên sự nghiệp, khẳng định tài trí của người Việt. Như lời của Phan Bội Châu viết trong câu đối tặng Nguyễn Sơn Hà: Hoá học bác âu trường, tô điểm sơn hà tâm hữu tất - Công khoa tồn Việt chủng, chuyển di thời thế thủ vi cơ. (Tạm dịch: Lấy hoá học người âu điểm tô cho sông núi bởi tấm lòng son sẵn có - Làm công nghệ đất Việt, đổi thay thời thế từ tay trắng làm nên).

Xuất thân từ một gia đình nghèo khổ, Nguyễn Sơn Hà có một tấm lòng thương người đặc biệt, ông luôn quan tâm đến việc làm sao để nâng cao vị thế của dân mình. Khi phong trào truyền bá quốc ngữ được thành lập ở Hà Nội và một số tỉnh, Nguyễn Sơn Hà liền đứng ra vận động mọi người thân quen làm nòng cốt để gây dựng phong trào Truyền bá quốc ngữ ở Hải Phòng. Cụ Nguyễn Văn Tố đã thân hành về Hải Phòng đề nghị Nguyễn Sơn Hà làm hội trưởng Hội Truyền bá quốc ngữ Hải Phòng, Kiến An. Năm 1945, khi nạn đói khủng khiếp xảy ra, Nguyễn Sơn Hà đã đứng ra tổ chức ban cứu đói.  Vợ chồng ông còn đứng ra lập trường Dục Anh tại số nhà 46 phố Lạch Tray để nuôi dạy trẻ mồ côi.

Khi thực dân Pháp đánh chiếm Hải Phòng, cả gia đình ông Nguyễn Sơn Hà đều tham gia kháng chiến, rồi lên Việt Bắc. Ở chiến khu, ông cùng một số cộng sự nghiên cứu tìm tòi các nguyên liệu và phương tiện để mở xưởng sản xuất ra giấy than, mực in litô và vải che mưa. Vải che mưa của xưởng Nguyễn Sơn Hà chế tạo có thể chống mưa, nguỵ trang cũng tốt, lại có thể dùng làm chiếu nằm rất tiện lợi... Vào tháng 10/1948 và tháng 3/1949, hai lần ông được Hồ Chủ tịch gửi thư khen và động viên ông tiếp tục đóng góp cho kháng chiến...

Hoà bình lập lại, Nguyễn Sơn Hà đưa gia đình về lại thành phố Hải Phòng. Đến năm 1980, ông qua đời, hưởng thọ 86 tuổi. Cả cuộc đời, ông luôn lao động sáng tạo và yêu thương đồng bào của mình. Bởi vậy, tiếng thơm của ông, người đời nhớ mãi. Tháng 1/2010, nhân kỷ niệm 30 năm ngày mất Nguyễn Sơn Hà, Thành phố Hải Phòng đã tổ chức ghi nhận những cống hiến quý báu của Nguyễn Sơn Hà, một Doanh nhân đất Cảng tài trí, giàu lòng yêu nước.


Vạn Vân- Thương hiệu nước mắm nổi tiếng


Ông Đoàn Đức Ban (thường gọi là Lý Ban) ở thôn Hoà Hy, xã Hoà Quang là người đầu tiên nghĩ tới việc sản xuất nước mắm Cát Hải lên bán cho chính vùng Kinh Bắc. Nước mắm được chở bằng thuyền tới vạn chài làng Vân (Vạn Vân) sau đó toả đi các nơi do vậy người mua quen gọi là nước mắm Vạn Vân. Bản thân Đoàn Đức Ban cũng luôn luôn mang ơn nơi đã truyền nghề cho mình bèn nhận cái tên dân gian và chính thức đặt tên cho nước mắm của mình là Vạn Vân. Ngư dân Cát Hải, Cát Bà, Quảng Yên, Hồng Gai, Hải Ninh tới tấp chở cá bán cho những hộ sản xuất nước mắm và chở bã cá từ đấy bán cho nguời Hà Cối dùng trong chăn nuôi.

Vạn Vân là người có đầu óc kinh doanh và phát triển sản xuất. Ông mua nhà ở Bắc Ninh, Hải Phòng, Hà Nội vừa làm kho vừa làm cửa hàng. Cửa hàng ở Hải Phòng đặt tại 184 Xavátxiơ (nay là phố Quang Trung), ngay trước bến nhận hàng trên sông Lấp. Cửa hàng ở Hà Nội đặt tại ngã ba phố Trần Nhật Duật và Hàng Khoai gần sông Hồng và ga Đầu Cầu (ga Long Biên). Cửa hàng ở Bắc Ninh cũng gần sông.

Năm 1936 xí nghiệp Vạn Vân là cơ sở sản xuất nước mắm lớn nhất nước ta, được  thành lập vào năm 1916 ở giữa hai làng Can Lộc và Văn Chấn thuộc Cát Hải. Xưởng có 10.000 chum loại 400kg đựng chượp để lâu năm mới đem nấu. Nước mắm Vạn Vân được chế biến từ ba loại cá: Cá Quân một loại cá xác- đin, chỉ đánh được vào tháng 5, tháng 6 hàng năm, cho ra nước mắm thượng hảo hạng; cá nhâm có nước mắm loại hai; các ruội có nước mắm loại ba. Có câu ca về những sản vật ngon nổi tiếng Bắc Kỳ: Dưa La, húng Láng, nem Báng, tương Bần, nước mắm Vạn Vân, cá rô đầm Sét,...

Ông bà Vạn Vân có hai con trai hai con gái. Con trai cả là Đoàn Đức Trình. Người con trai thứ hai, Đoàn Đức Chuẩn (nhạc sĩ Đoàn Chuẩn) lại say mê âm nhạc. Ngoài cửa hàng bên sông Hồng, ông bà Vạn Vân mua riêng cho Đoàn Chuẩn biệt thự  số 9 Cao Bá Quát Hà Nội. Đoàn Chuẩn xây rạp Đại Đồng và lập gánh hát Lúa Vàng. Ông là nhạc công ghita  Haoai xuất sắc và sáng tác một số ca khúc, trong đó có nhạc phẩm "Thu quyến rũ" nổi tiếng.

Trước cách mạng tháng Tám một thời gian, ông Vạn Vân qua đời. Toàn quốc kháng chiến bùng nổ, Đoàn Đức Trình lên chiến khu tiếp tục công tác trong tổ tài chính của Nguyễn Lương Bằng. Bà Vạn Vân ở lại Cát Hải duy trì công việc của hãng. Những năm 1950, 1953 là thời gian cực thịnh của hãng Vạn Vân. Ngoài các cửa hàng, hãng còn có đoàn xe ôtô vận tải.

Hoà bình lập lại, Đoàn Đức Trình từ chiến khu trở về tiếp thu cơ sở Vạn Vân thay mẹ. Tuy chỉ đứng chủ hãng có bốn năm, sau này Đoàn Đức Trình vẫn bị quy là tư sản. Tháng 10/1959 thực hiện chính sách cải tạo công thương nghiệp tư bản tư doanh, Đoàn Đức Trình cùng 54 hộ tư sản và tiểu chủ sản xuất nước mắm khác ở Cát Hải, trong đó tài sản của Vạn Vân chiếm đại đa số. Quy trình sản xuất của xí nghiệp cũng tiếp nhận từ quy trình của Vạn Vân. Đoàn Đức Trình được cử làm phó Giám đốc xí nghiệp. Cái tên Vạn Vân mất từ đó.

Tuy nhiên tiếng tăm Vạn Vân không hề mất. Năm 1975 toàn bộ vốn cố định và lưu động của gia đình Vạn Vân coi như hết. Gia đình chấm dứt việc hưởng lợi tức. Cũng năm này Đoàn Đức Trình phát biểu trên Đài tiếng nói Việt Nam về chính sách cải tạo tư sản, góp phần vào việc cải tạo tư sản ở miền Nam. Năm 1977 Đoàn Đức Trình về hưu, chuyển lên Hà Nội sống cùng gia đình Đoàn Chuẩn. Năm 1989 ông mất ở Hà Nội.


Phạm Văn Phi- Chủ hãng ôtô nổi danh


Ông Phạm Văn Phi xuất thân từ một gia đình nông dân nghèo ở làng Lâm Động, huyện Thuỷ Nguyên, Hải Phòng. Tuổi thiếu thời, Phạm Văn Phi đã sang Hải Phòng học việc trong các xưởng thợ để kiếm sống và trở thành thợ giỏi, có óc sáng tạo. Có lần, Cảng Hải Phòng có một cần cẩu lớn, hiện đại gọi là cần cẩu vàng bị hỏng hóc không hoạt động được, thợ của Cảng bó tay, trong khi nhu cầu bốc dỡ hàng đang cần gấp. Giám đốc Cảng sốt ruột bèn hứa ai chữa được cần cẩu sẽ được thưởng. Thợ Phi nhận xin sửa thử, kết quả sau khi cặm cụi mày mò, cần cẩu vàng hoạt động trở lại trước sự ngạc nhiên của chủ và các bác thợ già. Một lần, chủ nhất mỏ than Hồng Gai có chiếc két sắt đựng tiền bị hóc khoá không thể nào mở được. Loại khoá két bạc vốn rất phức tạp, ít thợ sửa được Phạm Văn Phi cũng nhận sửa và thành công. Hai lần sửa chữa cơ khí phức tạp thành công, Phạm Văn Phi không chỉ nổi tiếng khéo tay, giỏi nghề mà còn được trả công và khoản tiền thưởng hậu.

Có chút vốn liếng và tay nghề, ông vào Vinh mở cửa hiệu sửa chữa ô tô mang tên Phạm Phi. Nhờ giỏi tay nghề, trọng chữ tín, thương yêu những người giúp việc cùng cảnh áo ngắn nên hiệu Phạm Phi đắt khách, làm ăn phát đạt. Vì vậy, ông có điều kiện mở rộng xưởng cơ khí sửa chữa, sau lại sắm được ô tô hoạt động trên các tuyến đường Vinh- Huế- Đà Nẵng- Đà Lạt và Vinh- Savanakhét (Lào). Lúc phát đạt nhất, hãng xe Phạm Phi có đến 43 đầu xe chạy; bảy, tám chục công nhân, phần đông là con em họ hàng người làng Lâm. Hãng này ngày ấy đã làm một con đường ở thành phố Vinh, được gọi là đường Phạm Phi.

Ròng rã 20 năm (1908- 1928) kiên trì lao động kinh doanh, từ một công nhân trở thành một chủ hãng lớn ở miền Trung. Nhưng vào thời kỳ kinh tế khủng hoảng-  năm 1930 ông phải bán cả xí nghiệp cho nhà tư bản Bạch Thái Bưởi. Sau khi phá sản, ông đau yếu rồi qua đời. Gia đình ông có cảm tình với phong trào cách mạng, con trai ông là Phạm Văn Ngự tham gia cách mạng trong cao trào kháng Nhật cứu quốc ở quê nhà, xây dựng nhóm Việt Minh ở Lâm Động. Cháu ông là Nhà điêu khắc Phạm Ngọc Lâm. Và chắt ông là ca sĩ Lâm Phương hiện nổi tiếng ở Hải Phòng.


Quảng Thịnh- Rừng khăn mũ

Ông Quảng Thịnh sinh năm 1908 tại Đa Ngưu, Mỹ Văn, Hưng Yên trong một gia đình giáo học. Năm 19 tuổi ông theo người anh họ xuống Hải Phòng học nghề làm mũ, ông học sáng dạ và thiết kế được nhiều kiểu khăn mũ mới với mẫu mã rất đẹp. Sau khi học thành nghề, năm 1939, ông mở một cửa hàng và xưởng thợ ở phố Khách, Hải Phòng. Bấy giờ mũ ni-e và khăn xếp đang là mốt của giới công chức và nam nữ tân tiến thành phố. Cửa hàng đắt khách đến mua buôn và mua lẻ. Xưởng thợ khăn mũ đông người làm và lương công nhật rất sung túc, vì thế có câu thơ:
Muốn ăn cơm tám với giò
Lấy chồng thợ mũ chẳng lo lắng gì.

Vua Bảo Đại cùng Nam Phương Hoàng Hậu xuống Hải Phòng du ngoạn và ra Đồ Sơn nghỉ ngơi. Ông Quảng Thịnh được Tòa thị chính thành phố đặt làm một chiếc khăn xếp cầu kỳ tặng Nam Phương Hoàng Hậu. Nam Phương Hoàng Hậu rất thích và gửi lời khen ngợi. Cửa hàng của ông Quảng Thịnh lấy quảng cáo "Rừng khăn mũ", bán buôn bán lẻ khắp miền Duyên Hải. Các thương lái từ Quảng Yên, Hải Dương, Hưng Yên, Nam Định, Thái Bình,... tấp nập về lấy mũ và khăn của ông mang đi bán khắp vùng miền. Gia đình ông Quảng Thịnh thông gia với gia đình ông Phú Hà. Đám cưới con gái đầu của ông Quảng Thịnh lấy con trai ông Phú Hà to nhất thời bấy giờ.

Chiến tranh chống Mỹ, ông Quảng Thịnh sơ tán lên Kim Thành, Hải Dương và mở cửa hàng khăn mũ tại chợ Giải. Bà con đến nay còn nhớ ông cụ cao lớn với chòm râu trắng làm mũ và bán mũ phục vụ bà con rất ân tình. Hòa bình lập lại, ông về Hải Phòng tham gia sản xuất kinh doanh khăn mũ và hoạt động công thương xã hội tích cực. Năm 1980, ông Quảng Thịnh vào Sài Gòn chơi, rồi mất sau một cơn cao huyết áp. Các con trai và con gái của ông là giáo viên, kỹ sư, cán bộ đoàn thể... Chỉ tiếc là không ai nối nghiệp làm mũ của ông nữa.


Lê Văn Thược- Kinh doanh địa ốc


Phố Lê Chân, Hải Phòng ngày trước có tên là Nam Sinh- Lê Văn Thược. Còn có tên gọi là ngõ Nghè vì đầu phố có đền Nghè thờ bà Lê Chân. Ông Lê Văn Thược là nhà thầu khoán kiêm điền chủ và kinh doanh địa ốc năm xưa. 

Cuối thế kỷ 19 ở xã Ông Đình, huyện Khoái Châu, tỉnh Hưng Yên có một gia đình nông dân nghèo sinh được ba người con gái. Vì không thể nuôi nổi các con, họ đã phải đem một đứa ra Hà Nội  bán. Đó là Lê Thị Tâm. Nhớ nhà, sợ hãi cuộc sống xa lạ, ngay đó Tâm đã  trốn khỏi nhà chủ. Một người đàn bà tốt bụng nhận Tâm về làm con sen. Không được đi học nhưng cô được bà dạy không những đọc thông viết thạo mà còn biết cả chữ nho. Tâm càng lớn lên càng xinh đẹp. Cô được nhiều người để ý, sau đó thành vợ chủ hãng Nam Sinh ở Hải Phòng, một người Pháp làm nghề thầu khoán, đại diện cho một hãng thầu ở Pháp. Lê Thị Tâm được gọi là bà Nam Sinh từ đó.

Có một người đàn ông khác cũng thầm yêu trộm nhớ bà Nam Sinh, đó là... anh bồi của ông bà chủ, tên là Lê Văn Thược. Ông Thược quê ở làng Mọc, tỉnh Hà Đông, nay là vùng cống Mọc, gần Ngã Tư Sở, Hà Nội. Một thời gian sau, người Pháp nọ hết hạn làm việc ở Đông Dương. Có lẽ ông ta đã có vợ con bên Pháp nên không thể đem người vợ Việt Nam về theo. Bà Nam Sinh đề đạt nguyện vọng nếu không thể sang Pháp thì cho mình được lấy ông Lê Văn Thược. Người chồng Pháp bằng lòng, không những vậy còn giao luôn hãng Nam Sinh cho hai người.

Bà Nam Sinh thành vợ ông Lê Văn Thược, từ đó ông Lê Văn Thược cũng được gọi là Nam Sinh. Được chính quyền khuyến khích tham gia vào việc phát triển đô thị, vợ chồng Nam Sinh liền vay tiền Địa ốc ngân hàng để xây nhà trên con đường mới được mở rộng trên cơ sở của ngõ Nghè cũ, chạy từ phố Cầu Đất sang phố Mê Linh. Người Hải Phòng  có thói quen gọi ngõ phố bằng tên những người đầu tiên xây nhà hoặc có mặt ở đấy nên gọi con phố mới mở này được gọi là phố Nam Sinh, sau đó được chính quyền thành phố chính thức hoá, lèo thêm "dit Le Van Thuoc", có lẽ để người ta khỏi lầm với ông chủ hãng Nam Sinh cũ nay đã về Pháp.

Người Pháp phân biệt: Boulevard là đại lộ, Avenue là phố lớn, Rue là phố nhỏ, Route là đường. "Rue Nam Sinh dit Le Văn Thuoc" thuộc loại phố nhỏ, chỉ dài khoảng  200m, đường và vỉa hè hẹp. Nam Sinh xây phần lớn nhà trên phố, vì để bán cho Hoa kiều hoặc cho họ thuê. Trường nữ học trên phố, nay là Trường tiểu học Nguyễn Thị Minh Khai, cũng do Nam Sinh xây theo thiết kế và đầu tư của chính quyền thành phố. Ngày 20/10/1946, Chủ tịch Hồ Chí Minh đi thăm Pháp về, để đảm bảo an toàn cho Bác, tránh xa nơi quân Pháp chiếm đóng, tổ chức đã bố trí Bác nghỉ trong một căn phòng của trường này.

Xã Hoà Nghĩa thời ông bà Nam Sinh thuộc tổng Tư Thuỷ. Nhân dân Hoà Nghĩa ngày nay nhiều người vẫn nhớ "Bài thơ lập ấp", tương truyền đã ra đời gần 100 năm nay, tác giả là ông giáo Móm. Mấy câu đầu bài thơ như sau:                                   
Tỉnh Kiến An có làng Hoà Nghĩa
Nhác trông xem phong cảnh hữu tình
Hỏi ra từ ông Nam Sinh
Xuất tài, xuất lực lập thành xã dân...
Cứ như bài thơ thì hồi đầu thế kỷ 20 vùng Hoà Nghĩa khá hoang vắng.  Nhân dân Hải Phong, Hoà Nghĩa được hỏi đều mang ơn ông bà Nam Sinh. Ông là một người khá uy tín trong xã hội nên đã được bầu làm nghị viên Viện Dân biểu Bắc Kỳ. Năm 1932 ông Nam Sinh- Lê Văn Thược mất và an táng tại Hoà Nghĩa.

CB

Hội Nhà văn Hải Phòng

Tin chung Trackbacks (0) Bản in góp ý (82)   


HỘI NHÀ VĂN HẢI PHÒNG

Hội Nhà văn Hải Phòng được thành lập ngày 26.1.2005, trên cơ sở chuyển đổi của Hội Văn học lúc đó với 97 hội viên. Số hội viên hiện có là 124 người, với 82 nhà thơ và 42 nhà văn, trong đó có 26 hội viên Hội Nhà văn Việt Nam. Đây cũng là hội có số hội viên đông nhất trong 9 hội chuyên ngành của Hội Liên hiệp Văn học- Nghệ thuật Hải Phòng và đứng thứ ba toàn quốc.

Sau 5 năm hoạt động, tính đến ngày 26.1.2010, sáng tác của Hội Nhà văn Hải Phòng "được mùa" với hơn 150 tác phẩm ra đời. Có hơn 25 lượt hội viên được giải thưởng hằng năm của Liên hiệp các Hội Văn học- nghệ thuật Việt Nam; hơn 30 lượt hội viên đã giành được giải thưởng các loại. Hầu như cuộc thi văn chương nào, các nhà văn Hải Phòng cũng đoạt giải, trong đó có nhiều giải danh giá. 

Hội Nhà văn Hải Phòng được biết đến là nơi hội tụ của nhiều thế hệ nhà văn, nhà thơ "của một thời" như Khái Hưng, Trần Tiêu, Nguyễn Huy Tưởng, Nguyên Hồng, Nguyễn Đình Thi, Thế Lữ, Lê Đại Thanh... Thế hệ trưởng thành sau đó, văn xuôi có Bùi Ngọc Tấn, Đình Kính, Trần Tự, Bão Vũ, Đoàn Lê, Cao Năm, Lưu Văn Khuê...; thơ có Thi Hoàng, Đào Cảng, Trịnh Hoài Giang, Dư Thị Hoàn, Phạm Ngà, Hồ Anh Tuấn, Mai Văn Phấn, Vũ Thị Huyền,...

Nhưng Hải Phòng vẫn đang tìm cách trẻ hóa để nuôi dưỡng một thế hệ tiếp nối tiềm năng cả về lượng và chất. Nếu có thể phát triển cái nền tảng của truyền thống nối tiếp ấy, chắc chắn, tiềm lực sáng tác của Hải Phòng sẽ ngày càng vững mạnh. Không gì khác hơn, cần có giải pháp cấy mầm trong thế hệ để tìm tài năng sáng tác, để ươm cho những mầm cây ấy sinh sôi. Những trang viết của Hội viên Hội nhà văn Hải Phòng luôn song hành cùng những trang lịch sử: Một Hải Phòng những ngày đầu giải phóng, một Hải Phòng những ngày đánh Mỹ, Hải Phòng đầy trăn trở những ngày đầu bước vào cuộc sống thị trường và Hải Phòng hồ hởi trong công cuộc đổi mới công nghiệp hoá- hiện đại hoá đất nước. 

Được thành lập ngày 15.1.1964, đến đầu năm 2010, Hội Liên hiệp Văn học nghệ thuật Hải Phòng vừa tròn 46 năm xây dựng và trưởng thành. Từ tên gọi ban đầu là Chi hội Văn học nghệ thuật Hải Phòng, gồm 5 tiểu ban với chưa đầy 100 hội viên, ngày nay Hội đã có 9 hội chuyên ngành quy tụ hơn 550 anh chị em hội viên hoạt động trên mọi lĩnh vực văn học nghệ thuật. Rất nhiều anh chị em buổi ban đầu chập chững giờ đây đã trở thành những tác giả, những nghệ sĩ có tên tuổi trong cả nước.

Không dễ một Hội văn học nghệ thuật địa phương nào có được bề dày 46 năm, bởi Hội Liên hiệp Văn học nghệ thuật Hải Phòng, với tên gọi đầu tiên là Chi hội Văn học nghệ thuật Hải Phòng, được thành lập sớm thứ hai trên miền Bắc sau ngày một nửa đất nước được giải phóng, trước Hà Nội hai năm. Hồi đó Hà Nội tập trung hầu hết các nhà văn, các nghệ sĩ có tên tuổi nên nhu cầu thành lập Chi hội chưa trở nên bức thiết.

Những năm mới chỉ có Ban vận động thành lập Chi hội, Hải Phòng đã chứng tỏ đội ngũ tiềm tàng với những người lãnh đạo tài năng và tâm huyết: Nhà văn Nguyên Hồng, nhạc sĩ Trần Hoàn, nhà thơ Nguyễn Viết Lãm; bên cạnh là Lê Đại Thanh, Bùi Ngọc Tấn, Nguyễn Quang Thân, Nguyễn Thanh Toàn, Giang Tấn, Nguyễn Hoàng, Nguyên Bình, Thúc Hà, Nguyễn Văn Chuông...

Liền đấy đã nhìn thấy rất nhiều những tài năng hứa hẹn xuất thân từ đội ngũ trí thức, từ công nhân. Rồi Vân Long, Hoàng Hưng, Đào Cảng, Trịnh Hoài Giang, Nguyễn Thanh Toàn, Thanh Tùng, Thi Hoàng... Khoẻ khoắn, trong trẻo như lá non, hừng hực như hơi thở của biển cả- đó là đặc điểm của văn chương Hải Phòng những năm chống Mỹ. Cây bút trẻ thời nào chả có, điều đáng chú ý ở đây là sự xuất hiện hàng loạt và để lại ấn tượng ngay từ đầu.

Những anh em có mặt từ thời kỳ ấy, kể cả trong văn xuôi, đến nay vẫn tiếp tục đi xa, tiến xa trong sự nghiệp. Thế mà bắt đầu gần như từ con số không! Những ánh hào quang xưa từng đem lại vầng sáng cho Hải Phòng- nơi đã sản sinh ra họ, như Vi Huyền Đắc, Thế Lữ, Khái Hưng, Trần Tiêu,... sau ngày giải phóng chỉ còn là những ký ức xa xôi.

Với Nguyên Hồng, ông ở Hà Nội và Bắc Giang nhưng vẫn đi về với quê hương thứ hai nặng tình nặng nghĩa của mình, để rồi một ngày đầu năm 1964, đã xúc động đọc bài diễn văn khai mạc Đại hội thành lập tổ chức của những người hoạt động văn học nghệ thuật Thành phố Cảng và trở thành vị Chủ tịch đầu tiên của Hội. Giờ đây, sau 46 năm, Hội Liên hiệp Văn học nghệ thuật Hải Phòng đã có hơn 550 hội viên, trong đó có 124 anh chị em hoạt động văn học.

Đúng vậy, Hải Phòng là miền đất của văn chương, bắt đầu từ những vị Trạng nguyên: Lê Ích Mộc, Trần Tất Văn và nhất là danh nhân văn hoá Trạng Trình Nguyễn Bỉnh Khiêm. Ngay sóng biển cũng ngọn cao ngọn thấp và lúc triều lên triều xuống. Mừng nhất là bên cạnh những tác giả đã được khẳng định từ những năm chống Mỹ nay vẫn giữ được vị trí của mình, Hải Phòng lại nổi lên những gương mặt mới, những giọng điệu mới cách đây chục năm chỉ được bắt đầu. Nhưng mừng hơn cả đó là sự tìm tòi và không ngừng đổi mới của đa số tác giả, để không bị nhoè lẫn, để vượt lên chính mình, để đích thực là văn chương.

Trong lịch sử, không thiếu gì những sự kiện vĩ đại, những năm tháng huy hoàng đi qua mà không có dấu vết trong văn học. Chúng ra không như vậy, những người viết văn làm thơ Hải Phòng không để vậy, họ viết về chính thời kỳ của mình, về thành phố mình.

Năm 2010 đã đến, kỷ niệm 46 năm ngày thành lập Hội Liên hiệp Văn học Nghệ thuật Hải Phòng, kỷ niệm 5 năm ngày thành lập Hội Nhà văn Hải Phòng, chúng ta biết nhiệm vụ của văn học đối với lịch sử và tương lai rất nặng. Làm ra lịch sử là cả nước, cả dân tộc nhưng phản ánh lịch sử lại chỉ số ít người, trong đó có nhà văn. Chỉ nghĩ đến điều này thôi, những người viết văn làm thơ đất Cảng đã cảm thấy một gánh rất nặng trên vai mình, trong khi chưa có thể nói là đã trả xong gánh nợ lòng đối với quá khứ, càng chưa có thể nói đã san lấp được cho lịch sử những khoảng trống người trước còn để bỏ trong văn chương.

CB

Cảm nhận về kiến trúc nông thôn

Tin chung Trackbacks (0) Bản in góp ý (82)   


Cảm nhận về kiến trúc nông thôn


M
ỗi khi nhắc đến nông thôn, người ta thường nghĩ đến cây đa bến nước, sân đình, đến luỹ tre rủ bóng mát trên con đường làng, đến những ngôi nhà giản dị, thoáng mát, với hàng rào râm bụt, vườn cây ao cá... Và ở đó người ta có thể tìm thấy một cuộc sống thanh bình nơi làng quê Việt. Một nét đẹp của kiến trúc thôn quê hẳn làm xao lòng mỗi người trong chúng ta vì chắc chắn ai cũng có một quê hương để yêu thương, để nhớ. Những bờ xôi, ruộng mật, những cầu tre nhỏ với nón lá nghiêng che... liệu một ngày nào đó chỉ còn trong câu hát. Nhạc sỹ Dương Thụ từng nói: "Mỗi đô thị đều có những câu chuyện kể về mình... và có thể cũng chẳng có gì đáng kể cả. Vậy thì lấy gì để mà nhớ nhung".
Vậy là mỗi làng quê đều có những câu chuyện của riêng mình. Những ngôi nhà nông thôn tường được xây bằng gạch đất nung dày khoảng 20cm, mạch được để trần hay trát. Hướng nhà chính bao giờ cũng quay về phía Nam, Đông Nam để đón gió mát thổi từ hướng Nam, hơi nước từ mặt ao trước sân vào nhà. Lưng nhà ở phía Bắc không có cửa, hai hồi có cửa sổ nhưng thường rất nhỏ để chống cái rét của gió mùa Đông Bắc. Ba gian chính để thờ, tiếp khách. Hai chái để ở, cất đồ gia dụng quý giá và để chứa thóc, gạo. Cái nhà phụ thường nhỏ hơn, mái lợp rơm dùng để làm bếp và nơi chứa công cụ nhà nông. Khi cần, chủ nhà có thể tháo các cánh cửa gỗ, nới rộng không gian từ nhà, qua hiên, đến tận sân thành một không gian mở phục vụ cả năm, bảy chục người ngày lễ... Khu vườn bao quanh thường có hàng cau trước ngõ, những bụi chuối phía sau. Gia đình khá giả thì ngôi nhà có năm gian cổ với bậc thềm cao vút, ngói âm dương mát lạnh, cửa gỗ uy nghi.
Người nông dân Việt Nam vốn có kinh nghiệm ngàn đời trong việc xây dựng ngôi nhà dân gian. Họ đã thành công trong việc đắp sông ngòi, ao hồ, đường sá, trồng cây tạo nên môi trường trong sạch, thoáng mát. Người Việt Nam đã vận dụng tính 2 mặt của phong thủy một cách hợp lý, kết hợp rất có hiệu quả giữa cấu trúc công trình với nội và ngoại thất, hướng nhà theo hướng gió mát. Công trình nhà ở vừa chống được mưa nắng, gió bão vừa đón được gió mát vào nhà. Vật tư được sử dụng đúng với các bộ phận của công trình để xây nên một ngôi nhà vừa tiết kiệm, vừa bền vững. Những ngôi nhà như vậy, những cái vườn như vậy, tạo nên những cái làng có luật, có lệ của nó như là một cơ thể sống thống nhất và đã tồn tại với lịch sử ngàn năm.

Vậy mà sau những biến cố lịch sử của chiến tranh đã hủy hoại rất nhiều di sản kiến trúc. Rồi quá trình đô thị hoá đã biến đổi nhanh chóng kiến trúc nông thôn Việt Nam. Thiếu quy hoạch, thiếu quản lý, mạnh ai nấy làm miễn là có tiền, đâu có đất trống là xây với đủ các kiểu nhà, đã phá vỡ kiến trúc làng quê Việt. Xã hội nông thôn đã có những thay đổi lớn lao. Cái làng ngày xưa, phương thức sản xuất ngày xưa không còn nữa. Người nông dân đang giàu lên, nông thôn ngày càng ít nhà lá, nhà đất, nhiều nhà gạch, nhà bê tông. Kiến trúc nông thôn buông lỏng, đi vào một số làng cũng giống như phố. Nông thôn xây đường, rồi hai nhà mặt tiền nhìn nhau, trong khi ngày xưa thì vườn trước ao sau.
Cảnh quan thay đổi, các mặt của đời sống văn hoá, tinh thần cũng có những biến đổi. Kiến trúc nông thôn Việt Nam với tư cách là một nghệ thuật tổ chức không gian truyền thống đang bị bỏ mặc cho sự thao túng của những vật liệu, thiết bị rẻ tiền, hào nhoáng và rỗng tếch về văn hóa, phải chăng đó là sự đổi đẹp lấy xấu thật vô tình trong xây dựng. Có thể nói kiến trúc nông thôn hiện nay không được hướng dẫn cả về quy hoạch lẫn thẩm mỹ. Nhà cửa, ngõ xóm xây dựng ít khi theo quy hoạch tạo nên sự hỗn độn, sự chen chúc, phá vỡ khung cảnh thôn quê vốn dĩ nền nã, nhuần nhị.

Nhìn ra nước ngoài, những nước tiên tiến như Nhật hay Pháp phát triển mạnh mẽ và hiện đại thế nào mà vẫn rất coi trọng vốn văn hoá cổ. Những không gian kiến trúc truyền thống được người Nhật hết sức giữ gìn. Ở Pháp, trước khi phát triển đô thị, người ta quy hoạch vùng ngoại ô và nông thôn. Nếu quy hoạch tốt ngoại ô và nông thôn thì không ai dại gì đổ xô về thành phố. Đó là giải pháp mà người Pháp mới thực hiện được trong một thập niên trở lại đây sau khi họ thấm thía hậu quả từ sự phát triển quá nhanh của đô thị.

Kiến trúc nông thôn không chỉ là không gian sống mà còn là không gian văn hóa truyền thống. Đã đến lúc đặt vấn đề bảo tồn và phát huy những làng cổ có giá trị không kém gì những khu phố cổ. Ở Hải Phòng có những làng cổ ở Vĩnh Bảo, Tiên Lãng, Thuỷ Nguyên, An Dương, Làng đảo Việt Hải- Cát Bà,.. Rất cần có sự hướng dẫn người nông dân xây nhà làm sao cho phù hợp cũng như giới thiệu những mô hình làng đẹp thôn quê. Các ngành chức năng, các kiến trúc sư cần vào cuộc để giữ lại và phát huy những giá trị văn hóa vật thể và phi vật thể của làng quê Việt. Trong đó, vấn đề bảo tồn, phát triển kiến trúc nông thôn cần được coi trọng để ngăn chặn sự phát triển xô bồ. Kiến trúc nông thôn đang đứng trước những vấn đề về mô hình, quy hoạch, thiết kế, kiến trúc, tổ chức cuộc sống cộng đồng, duy trì môi trường cảnh quan, bảo vệ môi trường... đó là những vấn đề gay gắt không kém các đô thị.
Việc cần làm ngay là xây dựng những giải pháp về kiến trúc nông thôn, xác định mô hình kiến trúc hợp lý, mang tính hiện đại và đậm đà bản sắc dân tộc để chuyển tải đến nông dân và các vùng nông thôn. Xây dựng quy hoạch không gian làng, phổ biến tiêu chuẩn, mô hình mẫu. Quy hoạch nông thôn trên cơ sở "xã hội hóa" để nhân dân tham gia chuẩn bị không gian sống cho chính mình. Với nông thôn mỗi vùng sẽ có sắc thái riêng nhờ địa thế, tập quán sống khác nhau. Việc thiết lập quy hoạch tổng thể cho không gian làng dựa trên cơ sở thực tế từng địa phương. Cũng như việc tìm ra mô hình kiến trúc nhà ở thực sự hợp lý cho nông thôn hiện đại, sẽ giúp cho không gian làng truyền thống tìm được vị trí trong sự phát triển hướng tới tương lai.

CB

Chùm thơ năm mới

Tin chung Trackbacks (0) Bản in góp ý (76)   


Chào đón năm mới 2010, Câu lạc bộ Thơ Cung Văn hóa LĐ HN Việt Tiệp HP vừa tổ chức Đêm liên hoan và giao lưu thơ. Tới dự và chia vui có các đồng chí đại diện Cung Văn hóa LĐ HN Việt Tiệp; Đại diện Nhà Xuất bản Hải Phòng; Đại diện CLB Thơ Làng Văn hóa Vân Tra; Cùng Ban Chủ nhiệm và hơn 40 Hội viên CLB Thơ Cung VH LĐ HN Việt Tiệp.
Nhà thơ Phạm Ngà, Chủ nhiệm CLB Thơ Việt Tiệp đã có bài phát biểu khai mạc chương trình; Điểm lại quá trình hoạt động trong 20 năm qua của CLB Thơ Việt Tiệp với những con số và thành tích đầy ấn tượng; Những kết quả hoạt động của CLB Thơ Việt Tiệp trong năm 2009 và kế hoạch hoạt động năm 2010 của CLB Thơ Việt Tiệp.
Thay mặt lãnh đạo Cung VH LĐ HN Việt Tiệp, đồng chí Đỗ Văn Tuấn, Trưởng phòng Nghiệp vụ Văn hóa Thể thao, đã có bài phát biểu đánh giá cao những thành tích hoạt động của CLB Thơ Việt Tiệp trong 20 năm qua, cùng những lời chúc tốt lành gửi đến toàn thể Hội viên CLB Thơ Việt Tiệp nhân năm mới 2010.
Những ly rượu vui được rót lên cho hồng gương mặt mừng năm mới. Nhà thơ Minh Trí, Phó Chủ nhiệm CLB Thơ Việt Tiệp đã dẫn một chương trình giao lưu thơ đầm ấm và tình cảm. Cát Biển xin trân trọng giới thiệu đến độc giả một Chùm thơ năm mới rút ra từ đêm thơ giao lưu trên.

CHÙM THƠ NĂM MỚI

Hoàng Thanh Tâm

ĐỢI

Đợi ai ở bến sông làng
Hàng mi cong, ánh trăng vàng cong theo
Thuyền ai nghiêng mạn buông neo
Gác nửa mái chèo vào ánh trăng cong


Thuý Ngoan

NHÀ EM

Nhà em cao lưng chừng giời!
Một mình vừa đứng, vừa ngồi thở than
Cũng không vất vả gian nan
Bằng câu thơ viết dở dang cuộc đời
Phận em bèo dạt mây trôi!
Bến sông thì cạn, bến đời thì sâu
Đàn ông "chết" hết còn đâu
Em làm cây nóc bắc cầu mà qua
Bao giờ bóng tắt chiều tà
Ngôi nhà cao ấy la đà bay theo!


Quang Tuyến

CHIỀU KHÔNG EM

Phút gần chưa kịp nói lời
Đã tương tư một mảnh trời trăng cong
Ngỡ từ lâu tắt lửa lòng
Con tim giờ lại chết trong mắt buồn
Lắng nghe sương suối đầu nguồn
Quên đời biển động sóng cuồn cuộn xa
Bờ xanh mộng mị cỏ hoa
Dẫu vàng lá rụng thu già vẫn yêu!
Tháng năm còn có bao nhiêu
Mang thơ đắp cả những điều không em


Nguyễn Đình Kiên

GỬI CHỊ

Sòn sòn theo khúc hát ru
Đời như một chiếc đèn cù quẩn quanh
Người ta như lá tươi xanh|
Trông mòn con mắt, còn mình héo khô
Gia tài một gánh con thơ
Oằn lưng chị biết bao giờ mới xong
Kiếp nghèo những rối bòng bong
À ơi! sao cứ đèo bòng nắng mưa?
Tiếng gà gáy sớm, gáy trưa
Con cò đi đón cơn mưa chưa về...


Nguyễn Thị Loan

LỜI RU THẮP LỬA
Tặng TN

Phong ba bão táp một thời
Trái tim thắp lửa bạc trời đêm đông
Ru cho đôi má con hồng
Nỗi đau lòng mẹ vun trồng trái non
Cuộc đời vì cháu, vì con
Buồn thương nén lại cho tròn niềm vui
Tháng năm chia ngọt sẻ bùi
Con khôn lớn - mẹ dập vùi đắng cay
Tái tê một mảnh trăng gầy
Lời ru thắp lửa vơi đầy giấc mơ
"Nón không quai" buộc bằng thơ
Tôi như trăng khuyết bây giờ còn đau
Nỗi buồn càng lấp càng sâu
Lấy câu thơ dại bắc cầu mà đi


Nguyễn Cường

THÁNG CHẠP

Tháng chạp muộn mà
Khói đồng xa nhạt nhoà mây xám
Vệt nắng đông hanh hao gò má rạn
Góc tre làng
Thấp thoáng tuổi thơ
Tháng chạp bao giờ cũng ngắn
Nghiêng giấc đêm nằm
Chấp chới âm dương
Chiều nắng tắt
Người về trong gió muôn phương
Ký ức thời gian
Chuyến tàu nhanh chạy vào dĩ vãng
Tháng chạp vội vàng
Vắng lặng trăng sao
Lẫm chẫm đào
Xoè lửa đón xuân sang
Chênh chao khúc hát giao thừa...


Lương Thế Phiệt

CLB Thơ Vân Tra

HÁT XẨM

Câu nghe như cấu như cào
câu như mảnh vỡ rạch vào nhân gian
Câu thì nắng xối mưa chan
Câu đem trong đục hoà tan kiếp người
Bên anh đàn nhị rã rời
bên em trống phách từng lời kêu đau
Rút từ gan ruột nát nhàu
bà tôi chắp lại thành câu xẩm buồn
Chết thì bó chiếu mà chôn
Đồng chinh xấp ngửa gọi hồn xác xao
Tiếng đau như cấu như cào
Hồn cha ông những tác tao một thời
bây giờ từng tiếng xẩm rơi
Vẫn như xa xót kiếp người quanh ta.

CLBTVT

Hai mươi mùa hoa

Tin chung Trackbacks (0) Bản in góp ý (61)   


Kỷ niệm 20 năm ngày thành lập Cung Văn hóa LĐ HN Việt Tiệp HP (17/12/1989- 17/12/2009). CLB Thơ Việt Tiệp kết hợp với NXB Hải Phòng cho ra mắt độc giả tập thơ "Hai mươi mùa hoa". CB xin trân trọng giới thiệu một chùm thơ được rút ra từ tập thơ trên.

HAI MƯƠI MÙA HOA

Phạm Ngà

NGHỊCH LÝ

Càng gần càng cách mãi xa
Cái ta đánh mất là ta kiếm tìm
Sang chiều sống tuổi hoa niên
Trót yêu dẫu chốn cửa thiền còn yêu.
Nhọc nhằn chuốc đã bấy nhiêu
Đem cho đi cả những điều đầy vơi
Đã từng phiêu bạt muôn nơi
Về nhà sợ tiếng lá rơi cuối mùa
Dửng dưng trước kẻ đón đưa
Lại chạnh lòng những thiếu thừa người ta
Vui thì heo hút cũng qua
Buồn thì giữa một rừng hoa cũng buồn
Kệ đời gió táp mưa tuôn
Ngẫm ra thân kiếp cánh chuồn trên sông
Người gần chẳng đợi chẳng mong
Lại đi thương nhớ người không của mình

Minh Trí

TRƯỚC BAN MAI

Trên trái đất còn nhiều người cô đơn
sương mù sớm mai
là nước mắt cả đêm qua họ khóc
mảnh trăng muộn như con thuyền hờn dỗi
sẽ đưa giấc mơ đi đến đâu
Nơi những mùa trăng không còn trăng nữa
nơi thiên thần cầm trên tay cầu lửa
sáng dần giấc mơ cô đơn
như lời nhắn gửi
Nơi con cú giấu nỗi buồn dưới cánh
đập chập chờn về góc đêm
nấc lên kinh dị khi gặp kẻ ác
trong giấc ngủ khuôn mặt méo mó
tiếng cú quệt vào đêm vết nhọ
Rồi giấc mơ kỳ diệu
nơi đứa bé đã sinh ra
những đứa trẻ tung lên ban mai
ông mặt trời mà chúng vừa tô vẽ
Và thế là bàn tay thơ ấu
lau sạch sương mù thế gian

Thanh Tùng

HẢI PHÒNG ƠI

Nơi ấy tôi còn nguyên tất cả
Từ vệt trời thơ thời giá lạnh
Đến viên sỏi cũ dấu chân mòn
Tôi đem khâu lại từng hoang vắng
Tôi còn lời hẹn với muôn năm
Với vai người dầu mỡ
Với bức tường của nắng
Với phố chiều ăm ắp giọng khơi xa
Ở nơi ấy còn bao bí ẩn
Với người qua một lần còn nhớ mãi
Những khoảng tối tôi bị dìm xuống đáy
Ở nơi ấy tôi còn nguyên tất cả
Tình yêu gửi trong trái tim người
Tôi trong gió và trong nắng
Sôi trong những lửa lò nung
Tôi cũng gọi tôi về, tôi biết lắm
Tôi cần cho cả mặt sông đêm
Cho tùng trái chín
Cho khoảng trời khuya bớt nhục nhằn
Tôi vẫn gọi về từng cánh cửa
Với từng bánh xe lên dốc nặng nề
Tôi vẫn gọi về đêm đêm xứ sở
Tiếng vọng vang trùng trùng cơn nhớ
Hải Phòng ơi!   

Vũ Thị Huyền

CHỢ QUÊ

Chợ quê bán thứ nhà quê
Quai thao nón thúng mà về với nhau.
Mua trầu thì nhớ buồng cau
Chõng tre với áo sồng nâu vắt rào
Bún lá chan với ốc ao
Hoa chanh ngõ trước thơm vào vườn sau.
Bán đi những thứ dãi dầu
Mua về những thứ đặc mầu nhà quê.
Mẹ còn gánh lúa trên đê
Cha còn bắt ếch đi về trong mưa
Chợ còn bán thứ ngày xưa
Ta còn lặn lội trong mơ tìm về.

Trần Quốc Minh

LẺ

Em về gõ cửa một lần
Còn tôi thảng thốt phân vân một đời
Thế rồi em đũa nên đôi
Còn tôi lận đận chiếc rơi chiếc nhầm

Hoàng Khôi

VÀO THU

Không muốn em buồn
Khi anh cất tuổi xanh vào dĩ vãng
Ngửa lòng tay thấy chiều chạng vạng
Khát khao một tiếng chim gù
Anh biết trời vào thu
Còn giông gió khoảng đời trống vắng
Mái nhà ấm êm trong tĩnh lặng
Ngập niềm vui thanh cao.
Anh trốn tìm ngọn gió lao xao
Em bình dị lẫn vào màu quả chín
Hiển hiện trong tầm tay anh vịn
Những câu thơ ươm sắc thu vàng.

Thúy Ngoan

ANH CỨ BẢO TÌNH YÊU LÀ NGỌN LỬA

Em trốn vào quá khứ
Như con tằm ủ kén làm tơ
Anh đánh thức!
Em khát khao làm vợ
Được yêu thương, được âu yếm cậy nhờ
Anh không nói nhưng mà em biết
Trong ánh mắt so đo hơn thiệt vơi đầy
Con dại, mẹ già như chuối chín cây
Con đò nhỏ dằm đầy nước mắt
Không dắm mất thì làm sao có được
Không đứt tay biết máu chảy thế nào?
Anh cứ bảo tình yêu là ngọn lửa
Không một lần dám đốt cháy thành tro

Phạm Xuân Trường

CHIA TAY CÁT BÀ

Mai chia tay nhé Cát Bà
Biển thương yêu sóng vỡ oà dưới chân
Hàng dừa non đứng tần ngần
Núi vươn tay níu người thân đừng về!
Những mâm xôi gấc bên hè
Tàn hoa kim phượng đỏ hoe mắt buồn
Trong ngần như những giọt sương
Hoa trứng cá cải trắng đường chờ ai
Chân kè con sóng thở dài
Ta ngồi uống cạn ban mai bên thềm
Một lần đến dễ gì quên
Ở đây giọt nắng cũng mềm như hoa...
Những người con lấy chồng xa
Có ai thương nhớ Cát Bà như tôi

Nguyễn Cường

QUÊ

Quê người
Đồng đất xa xôi
Tôi thường lạc lối mỗi khi về
Hàng tre giếng nước bờ đê
Trong giấc mơ sao giống nhau đến thế
Nỗi niềm quê bình dị
Nghe tiếng "Làng tôi" mà thấy thân thương
Mùi bùn đất sục sâu trong tâm tưởng
Quê hương ơi máu thịt mẹ cha
Đôi lúc giật mình thảng thốt
Một đời cách xa
Có điều gì khác lạ
Con người nơi phố phường sỏi đá
Mà nỗi lòng
Bùn đất cỏ hoa
Quê hương ơi mãi mãi cách xa
Ta mượn quê người gọi một tiếng "Quê ta"
Cho lòng đừng lạc lối
Mỗi khi về.

Phạm Thúy Nga

CÁNH CỬA

Mẹ thường nói:
cánh cửa này khép lại
sẽ đến một ngày
cánh cửa khác mở ra.
Nhưng một đời
mẹ chồng chất âu lo
cha đi
mùa con muộn giấc
cánh cửa lòng mẹ khép chặt
đã bao giờ mở ra?
Con ba mươi...
như một bản sao
đêm...
nhỡ về câu chuyện cổ
con gọi mãi
Vừng ơi! mở! mở!
mà vách cứ vọng bề
lặng câm...

Nguyễn Lâm Cẩn

THỊ GIÁC

Hòn đá
Tự đằng xa tôi ngắm
- Ông già nhân hậu?
- Nhà hiền triết?
- Một thi nhân...?
Tới gần
Hòn đá cõi âm!
Đá lừa tôi
Hay mắt tôi nhầm?
Hoài nghi thay
Cái vật tôi cầm
Viên ngọc quý hay chỉ là hòn sỏi?
Kẻ tín điều lời nói
Nghiền sách thành kinh kê nuôi thân
Bùn đen ngấm mãi bàn chân
Lật tung đất
Cái tôi nhìn là cái tôi không thấy!
Hòn đá kia như bàn tay tôi vậy
Thực hay hư
Thị giác cả thôi mà!

Trịnh Anh Đạt

RAU MÁ 

Mới nghe em chớ vội cười
Cây rau má "sâm" của người xứ Thanh
Miền quê bão lụt nắng hanh
Vươn lên để sống chỉ nhành má thôi
Cứ xanh rười rượi với đời
Cứ chia sẻ tất cho người cháo rau
Dù ai lận đận nơi đâu
Dù ai sống giữa nhà lầu xe hơi
Riêng vị rau má em ơi
Vẫn còn ngai ngái trong người xứ Thanh
Bao giờ em về quê anh
Mà xem dấu vết kinh thành xa xưa
Vĩ nhân và các đời vua
Cũng từ rau má ốc cua nên người
Mới nghe em chớ vội cười
Cây rau má "sâm" của người xứ Thanh

Đinh Thường

ĐÌNH VŨ NHƯ MỘT CON TÀU

Hàng vạn năm dầm mình trong biển mặn
Tôi luyện mình trong bão táp phong ba
Can trường trước đòn thù bom đạn
Thành con tàu ngạo nghễ hướng khơi xa.
Lung linh một vùng điện sáng sao sa
Bến cảng, nhà máy, công trường rộn rã
Đường mới thênh thang hối hả xe qua
Rộng dài trẻ trung một vùng biên ải.
Thức dậy rồi những năm dài bờ sông, bãi sú
Con cáy, con còng thành hoài niệm nắng mưa
Đời cha ông nghèo chắt chiu lam lũ
Dành trọn cho con cả lịch sử ngàn xưa.
Những ngày này Đình Vũ đang sung sức
Như con tàu rẽ sóng khơi xa
Cả Thành phố vững vàng làm động lực
Bến bờ nào gian khó cũng tới nơi.
Đường ra biển lớn ắt va sóng gió
Muốn vượt trùng phải chuẩn bị công phu
Người thuyền trưởng phải vững tay chèo lái
Thuỷ thủ đoàn chung hướng mỗi bước đi.
Anh bên em khát khao Đình Vũ
Vươn ra Biển Đông xây dựng quê nhà
Ta yêu nhau nên cùng tự nhủ
Chung sức chung lòng vượt bến bờ xa.

TVT

Gặp gỡ Côn Sơn

Tin chung Trackbacks (0) Bản in góp ý (66)   


GẶP GỠ CÔN SƠN


Gặp gỡ mùa thu - Một sinh hoạt nghề thường niên do Hội Kiến trúc sư Việt Nam tổ chức.
Cuộc gặp năm nay của giới Kiến trúc sư Việt Nam diễn ra tại Côn Sơn thuộc xã Cộng Hoà, huyện Chí Linh, tỉnh Hải Dương. Một địa danh không những nổi tiếng về phong cảnh thiên nhiên mà còn gắn liền với cuộc đời các danh tài của đất nước như Nguyễn Trãi, Chu Văn An. Chính vì vậy Côn Sơn đã và đang được đầu tư tu tạo và gìn giữ để trở thành Khu di tích- lịch sử- văn hoá và du lịch ngày một hấp dẫn. Nằm giữa hai dãy núi Phượng Hoàng - Kỳ Lân, gồm có núi non, chùa, tháp, rừng thông, khe suối, ngay từ thời Trần, Côn Sơn là một trong ba trung tâm của thiền phái Trúc Lâm (Côn Sơn- Yên Tử- Quỳnh Lâm).

Ngày nay, Côn Sơn còn lưu giữ được những dấu tích văn hoá thời Trần và các giai đoạn lịch sử kế tiếp. Tiêu biểu là: Chùa Côn Sơn có tên chữ là Thiên Tư Phúc tự, hay còn gọi là chùa Hun, toạ lạc ở ngay dưới chân núi Côn Sơn, có từ trước thời Trần. Vào đời Lê, chùa được trùng tu và mở rộng rất nguy nga đồ sộ. Trải qua biến thiên về lịch sử và thời gian, chùa Côn Sơn ngày nay chỉ còn là một ngôi chùa nhỏ ẩn mình dưới tán lá xanh của các cây cổ thụ. Chùa được kiến trúc theo kiểu chữ công gồm Tiền đường, Thiêu hương, Thượng điện. Thượng điện thờ Phật, có những tượng Phật từ thời Lê cao 3m. Phía sau chùa là nhà Tổ, có tượng Trúc Lâm tam tổ (Trần Nhân Tông- Pháp Loa- Huyền Quang), sân chùa có cây đại 600 tuổi, có 4 nhà bia; Giếng Ngọc nằm ở sườn núi Kỳ Lân, bên phải là lối lên Bàn Cờ Tiên, phía dưới chân Ðăng Minh Bảo Tháp. Tương truyền đây là giếng nước do Thiền sư Huyền Quang được thần linh báo mộng ban cho chùa nguồn nước quí. Nước giếng trong vắt, xanh mát quanh năm, uống vào thấy khoan khoái dễ chịu, do đó có tên là Giếng Ngọc và nước ở giếng được các sư dùng làm nước cúng lễ của chùa; Từ chùa Côn Sơn leo khoảng 600 bậc đá là đến đỉnh núi Côn Sơn cao 200m. Ðỉnh Côn Sơn là một khu đất bằng phẳng, tại đây có một phiến đá khá rộng, tục gọi là Bàn Cờ Tiên. Hiện nay Bàn Cờ Tiên có dựng nhà bia theo kiểu Vọng Lâu đình, hai tầng cổ các tám mái. Ðứng từ đây, du khách có thể nhìn bao quát cả một vùng rộng lớn.

Chúng tôi làm lễ dâng hương Nguyễn Trãi. Đền thờ Nguyễn Trãi là công trình trọng điểm nằm trong quần thể khu di tích Côn Sơn- Kiếp Bạc, khuôn viên đất rộng gần 10.000m2, tại chân núi Ngũ Nhạc, khu vực Thanh Hư Động, kiến trúc theo truyền thống rất độc đáo. Mỗi chúng ta khi đến dâng lễ, thắp hương tưởng nhớ Nguyễn Trãi, đứng trước ông, trong giây phút ta tĩnh tâm, suy  ngẫm, soi lại và tự biết mình. Người đến thắp hương tưởng nhớ Nguyễn Trãi xong, tâm sẽ sáng thêm.

Chúng tôi thăm đền Chu Văn An được thiết kế, xây dựng mang đậm nét truyền thống dân tộc. Ngôi đền chính được chồng diêm tám mái thể hiện sự tôn vinh đẳng cấp và tầm vóc của danh nhân theo tập quán người Việt. Ngay cổng có hàng chữ "Vạn thế sư biểu" để thể hiện tấm lòng của bao thế hệ người Việt với Chu Văn An. Nhà gỗ lim lợp ngói liệt, bậc thềm đá, đồ thờ sơn son thiếp vàng... trông thật khiêm nhường, ấm áp mà thành kính, trang trọng. Nhà bia cũ và cây trạng nguyên bên cổng đang nở hoa đỏ mang ý nghĩa tôn vinh sự học và đạo làm thầy. Tất cả hòa vào quần thể di tích tạo cảm giác gần gũi ấm áp cho mỗi người hành hương.

Chúng tôi đến thăm làng nông nghiệp nông thôn Kỳ Đặc. Xem triển lãm các đồ án đoạt giải cuộc thi KIẾN TRÚC NHÀ Ở NÔNG THÔN trưng bày tại làng. Một đêm giao lưu các Kiến trúc sư toàn quốc với Sở Xây dựng và Hội Kiến trúc sư Hải Dương tại Nhà hàng Việt Tiên Sơn ấm tình đồng nghiệp.

Một hội thảo khoa học với chủ đề: "Kiến trúc nông thôn Việt Nam- hiện trạng và đề xuất phát triển". Sau đó hội nghị Ban chấp hành Hội KTSVN lần thứ 7 họp. Kết thúc chương trình chúng tôi đến với Kiếp Bạc cách Côn Sơn 5km, thuộc xã Hưng Đạo, huyện Chí Linh. Kiếp Bạc là tên ghép của hai làng Vạn Yên (làng Kiếp) và Dược Sơn (làng Bạc). Nơi đây là thung lũng trù phú, xung quanh có dãy núi Rồng bao bọc tạo cho Kiếp Bạc có một vẻ đẹp vừa kín đáo, vừa thơ mộng. Vào thế kỷ 13, đây là nơi đóng quân và là phủ đệ của Trần Hưng Ðạo, người anh hùng dân tộc, người chỉ huy quân sự tối cao trong cuộc kháng chiến chống quân xâm lược Nguyên Mông.

Gặp gỡ mùa thu tại Côn Sơn khi gió đông đã về. Âu cũng là dịp để các kiến trúc sư gặp nhau nghĩ về một thời dựng nước và giữ nước của cha ông. Ngẫm ngợi những hưng vong và khúc bi tráng lịch sử. Một hội thảo về nhà ở nông thôn Việt Nam nhằm gìn giữ bản sắc dân tộc cũng như những ứng dụng thực tế trong điều kiện sống hiện nay. Cảm nhận Côn Sơn, bao xao xuyến sang mùa.

CB

Món ngon đất Cảng

Tin chung Trackbacks (0) Bản in góp ý (88)   


MÓN NGON ĐẤT CẢNG

                       

nh đa cua Hải Phòng       

Bánh đa cua là món ăn dân dã, gắn bó từ rất lâu với người dân Hải Phòng. Nó là thứ quà sáng, là thức ăn tối của người dân nơi đây. Nguyên liệu chế biến là sản phẩm của vùng quê như cua đồng, lá lốt, rau muống... Nhưng chính những nguyên liệu có từ đất, có từ đồng ruộng ấy qua bàn tay khéo léo, tỉ mỉ của người bán hàng trở thành món ăn đặc sản.
Nước dùng phải thật trong, đó là nước xương và nước cua đồng đã gạt hết bọt. Nổi phía trên nước dùng trong suốt là gạch cua nâu hồng, xôm xốp, miếng chả lá lốt xanh đậm, những mảy hành khô vàng rộm, giòn tan, những cọng rau, hành tươi xanh nõn.
Thứ đến và cũng rất đặc biệt là sợi bánh đa nâu sậm, loại bánh được tráng khá kỳ công, sợi bánh mỏng tang, mềm và dai. Để làm được loại bánh như thế những người làng Dư Hàng Kênh - nơi cung cấp bánh cho toàn Hải Phòng và đi các nơi khác của cả nước phải nắm rất rõ và giữ bí quyết, kỹ thuật ngâm gạo, chế nước khi xay, pha bột và điều chỉnh lửa lò lúc tráng bánh...
Một bát bánh đa cua ngon, hấp dẫn phải hội tụ đủ ngũ màu: màu gạch cua nâu hồng; màu bánh đa nâu sậm; màu xanh mướt của lá lốt, rau muống, hành lá, chanh; màu đỏ tươi nơi trái ớt và vàng rộm của hành khô. Màu sắc bắt mắt kết hợp với hương vị thơm ngon, béo ngậy chắc chắn sẽ níu chân thực khách dù chỉ một lần được thưởng thức, sẽ là hương vị nhớ về của những người đi xa.
Trong một ca khúc về Hải Phòng nhạc sĩ Trần Tiến đã viết: "Người Hải Phòng thật thà như bánh đa cua..."- thứ bánh mộc mạc, dân dã được dùng để chỉ một phẩm chất của người dân nơi đây, điều đó đủ cho thấy với người dân đất Cảng, bánh đa cua thân thiết như thế nào
.

Sam biển

Đến Hải Phòng, muốn tìm được một món ăn mang đặc trưng hương vị biển vừa ngon, vừa độc đáo, có nguồn gốc tự nhiên, luôn đảm bảo độ tươi sống và chứa đựng một giai thoại, thì Sam biển là một sự lựa chọn.
Từ nguyên liệu chính là thịt sam biển, người Hải Phòng có thể chế biến ra được rất nhiều món ăn khác nhau: tiết canh sam, gỏi sam, chân sam xào chua ngọt, sam xào xả ớt, trứng sam chiên giòn, trứng sam xào lá nốt, sam hấp, sam bao bột rán, sụn sam nướng, sam xào miến...
Các món ăn từ thịt sam biển thơm ngon, nhưng để có được những món ăn độc đáo ấy, thì khâu làm thịt sam và chế biến là cả một quy trình công phu. Việc đầu tiên cần nói đến là quá trình đánh bắt sam biển. Để bắt được sam biển, ngư dân phải tính con nước và định ngày ra khơi. Sam thường đi theo đôi (một đực, một cái), nên đã tìm thấy sam là bắt được cả hai con một lúc. Nếu chỉ bắt được một con, thì ngư dân sẽ nhanh chóng thả ngay xuống biển, vì đó là con so. Sam rất dễ nhầm với so, mà ăn so hay bị đau bụng.  Những người đi biển lâu năm dễ dàng phân biệt được hai loại này. Sam biển là loại hải sản chỉ sống trong tự nhiên, chưa nuôi trồng được, khi đánh bắt lên bờ chỉ sống được không quá ba ngày.
Ở Hải Phòng chỉ có duy nhất một con phố có đông nhà hàng chế biến sam biển ngon và uy tín là phố Chu Văn An. Người Hải Phòng vẫn quen gọi là Phố Sam. Bởi dãy phố này tập trung nhiều nhà hàng chế biến sam biển. Khi chế biến sam phải có đủ ba dụng cụ là dao nhọn, dao chặt và kéo để lấy phần chân, lọc thịt, bỏ ruột và gan (vì bộ phận này chứa nhiều tác nhân gây đau bụng).
Sam là món ăn thuộc loại hàn tính, nên phải ăn cùng những gia vị nóng như: giềng, sả, ớt, lá lốt... cùng với tài nghệ khéo léo và kinh nghiệm lâu năm của người đầu bếp, chúng ta sẽ có những món ăn đặc sắc chế biến từ sam biển với những hương vị rất riêng. Thịt sam ngon, vỏ sam cũng rất hữu dụng, có thể khắc hàn, cảm lạnh và kỵ sài cho người và vật nuôi. Từ vỏ sam, có thể dùng để chế tác ra đồ lưu niệm có độ tinh xảo, hấp dẫn khách du lịch khi đến Hải Phòng.

Nộm giá Cát Hải

Ai đã từng đi thăm đảo Cát Bà, được nhà tàu cho ghé vào Bến Gót, sẽ được nghe những tiếng rao rộn ràng: "Giá đây, giá đây! Ai nộm giá đây!". Hai mảnh vỏ xanh xanh, rộng như ngón tay ở giữa có chút ruột tanh tanh nhưng ngọt lừ, thêm cọng chân khoằn khoèo như cái giá đỗ, người ta gọi là con giá bể.
Giá bể có rất nhiều trong các bãi cát bùn ven biển Hải Phòng, người Hải Phòng đã biến nó thành những món ăn độc đáo. Đầu tiên, con giá được rửa sạch, vặt chân và bỏ cái đầu cưng cứng, đầy cát. Mình giá được cho vào chõ đồ như đồ xôi, không luộc. Vừa chín tới, đổ giá ra, tãi mỏng cho nguội rồi gỡ lấy phần thịt. Chân giá làm sạch, nhúng nước sôi nhưng đừng kỹ quá kẻo dai, xong vớt ra để ráo. Phần chính của món nộm đã xong, còn ba thứ nữa sẽ hoàn tất: riềng già giã nhuyễn, vừng rang xát vỏ và lá chanh thái chỉ. Món nộm hình thành với năm thành phần chính ấy. Nhai trong miệng, nộm giá cứ sần sật. Giòn, ngọt, bùi, cay- đủ cả. Món này khá tốn... rượu. Và tùy khẩu vị, số lượng giá, người ta thêm vào hoa chuối, thịt ba chỉ, muối bột, v.v...
Món nộm xem ra có vẻ dành cho đàn ông lai rai, thì trái lại, từ con giá bể, người ta "chế tạo" ra một thứ khác rất hợp cho các bà, các chị, đó là giá xào, món này bán la liệt ở các chợ, thậm chí ngay giữa phố Cầu Đất sang nhất Hải Phòng. Giá cũng được tách rời chân tay, thân được đem xào với bột, riềng, tỏi, rồi xúc ra bát, rắc phần chân đã nhúng nước sôi, nêm tương ớt, rau thơm với nhiều lá chanh. Món này các bà các cô rất thích. Ăn giòn giòn, ngọt ngọt, phải nhằn lấy ruột, nhả vỏ, đúng là một món quà đầy ý nghĩa ở đất Cảng Hải Phòng
.

CB

Mùa đông này về với Hà Giang

Tin chung Trackbacks (0) Bản in góp ý (68)   


MÙA ĐÔNG NÀY VỀ VỚI HÀ GIANG


Mùa đông này từ đất Cảng Hải Phòng, chúng tôi về với Hà Giang. Hà Giang là một tỉnh thuộc vùng Đông Bắc Việt Nam. Phía Đông giáp tỉnh Cao Bằng. Phía Tây giáp tỉnh Yên Bái và Lào Cai. Phía Nam giáp tỉnh Tuyên Quang. Phía Bắc giáp tỉnh Vân Nam và tỉnh Quảng Tây, Trung Quốc.  Hà Giang có nhiều núi non hùng vĩ, có đỉnh Tây Côn Lĩnh cao 2419 m và ngọn Kiều Liêu Ti cao 2402m.
Tỉnh Hà Giang bao gồm thị xã Hà Giang và 10 huyện: Bắc Mê, Bắc Quang, Đồng Văn, Hoàng Su Phì, Mèo Vạc, Quản Bạ, Quang Bình, Vị Xuyên, Xín Mần, Yên Minh.

Đất Hà Giang xưa thuộc bộ Tân Hưng, một trong 15 bộ của nước Văn Lang. Về sau, Hà Giang nằm trong phạm vi của ba Tộc tướng xứ Thái. Trong giai đoạn Minh thuộc đầu thế kỷ 15, được gọi là huyện Bình Nguyên, đổi thành châu Bình Nguyên từ năm 1473, sau lại đổi tên thành châu Vị Xuyên. Vào cuối thế kỷ 17, tộc trưởng người Thái dâng đất cho Trung Hoa, đến năm 1728, Trung Hoa trả lại cho Đại Việt một phần đất từ vùng mỏ Tụ Long đến sông Lô. Năm 1895, ranh giới Hà Giang được ấn định lại như trên bản đồ ngày nay.

Hà Giang là vùng miền núi nên dân số trong tỉnh không đông, đồng bào Kinh chiếm đa số, còn lại là đồng bào các sắc dân Thổ, Mèo, Tày, Dao, Mán, Nùng, Giấy và Lô Lô. Thị xã Hà Giang là một thị xã đẹp nằm trong một thung lũng, bốn bên là núi, có dòng sông Lô chảy qua thị xã. Thị xã Hà Giang là trung tâm kinh tế, chính trị, văn hóa của tỉnh. Thị xã có khu di chỉ khảo cổ học Đồi Thông nằm ngay trong lòng thị xã, nơi đây đã tìm thấy hàng ngàn di vật từ thời tiền sử và được xác định là một trong những vùng văn hóa sớm nhất của Việt Nam.

Đến với Hà Giang phải kể đến các thắng cảnh: Hang Phương Thiện cách thị xã Hà Giang 7 km xuôi về phía nam. Đây là nơi có nhiều phong cảnh, nhiều hang động tự nhiên. Các loại quả đặc sản: mận, lê, cam, táo và các loại chè tuyết san cổ thụ mọc trên độ cao 900 m; Hang Chui cách thị xã Hà Giang 7 km về phía nam. Hang ăn sâu vào lòng núi khoảng 100 m. Cửa hang hẹp phải lách người mới qua được. Vào trong lòng hang mở rộng, vòm hang cao vút, nhiều nhũ đá rủ xuống đủ mọi hình thù. Đặc biệt hang có nhiều dơi, có dòng suối dâng cao đổ xuống thành thác; Động Tiên và Suối Tiên cách thị xã Hà Giang 2 km. Động có Suối Tiên rất đẹp. Tương truyền xưa, các tiên nữ vẫn thường xuống động này để tắm vào dịp Tết nên được đặt tên là Động Tiên. Nhân dân quanh vùng vẫn thường đến Động Tiên lấy nước và cầu may mắn vào lúc giao thừa; Động Én cách thị xã Hà Giang 60 km thuộc địa phận huyện Yên Minh. Từ thị xã Hà Giang qua cổng trời Quản Bạ, qua những cách rừng thông sẽ tới động Én. Hang động còn mang nhiều nét hoang sơ nhưng đẹp.

Đồng Văn- Cổng Trời là một huyện vùng cao biên giới của Hà Giang. Độ cao vùng khoảng 1.000 m so với mặt biển, địa hình hầu như chỉ thấy núi đá. Huyện lỵ cách thị xã Hà Giang 146 km. 9 trong 19 xã thuộc huyện có đường biên giới với Trung Quốc. Mùa đông nhiệt độ có lúc xuống đến 1°C, nhưng mùa hè nóng nhất chỉ khoảng 24°C. Bầu trời hầu như quanh năm mưa và mù nên ở đây người dân có câu: "Thấy nhau trong tầm mắt, gặp nhau mất nửa ngày" và "Đất không ba bước bằng, trời không ba ngày nắng". Đồng Văn có điểm cực bắc của Việt Nam tại xã Lũng Cú. Người ta nói rằng nếu chưa lên Lũng Cú thì coi như chưa đến Đồng Văn, bởi Lũng Cú là "Nóc nhà của Việt Nam" nơi mà "Cúi mặt sát đất, ngẩng mặt đụng trời". Đồng Văn nổi tiếng về trái ngon quả ngọt: đào, mận, lê, táo, hồng... về dược liệu: tam thất, thục địa, hồi, quế... Đồng Văn còn nổi riếng về phong cảnh như núi non, hang động, những rừng hoa đủ sắc màu...

Tại huyện Đồng Văn có Dinh họ Vương (Vương Chí Sình) thuộc địa phận xã Sà Phìn. Quy mô của dinh không lớn nhưng đây là một "Công trình kiến trúc đẹp hiếm có" và rất độc đáo của vùng cao nguyên này. Đoạn đường dẫn vào dinh chỉ dốc thoai thoải, được lát bằng những phiến đá lớn vuông vức, phẳng lỳ. Dinh được bao bọc bởi hai vòng tường thành xây bằng đá hộc. Vòng thành ngoài là một bức tường dày khoảng 40 cm, cao khoảng 2 m. Vòng thành trong dày và kiên cố hơn vòng thành ngoài. Cả hai vòng thành đều có lỗ châu mai. Giữa hai vòng thành là một dải đất rộng khoảng 50 m, trồng toàn trúc. Dinh có ba ngôi nhà sàn. Ngôi nhà chính quay mặt ra cổng thành, hai ngôi nhà phụ song song nhau và vuông góc với ngôi nhà chính. Cả ba ngôi nhà được làm bằng gỗ, từ cột, kèo, sàn, vách, mái đều làm bằng gỗ quý. Ngôi nhà chính là nơi ở của "Vua" họ Vương, ở đó hiện vẫn còn bức hoàng phi với bốn chữ "Biên chinh khả phong" được vua Nguyễn ban cho. Hai ngôi nhà kia dành cho những người phục vụ và lính bảo vệ.

Chợ tình Khâu Vai chỉ họp mỗi năm một lần vào ngày 27 tháng 3 âm lịch tại xã Khâu Vai, huyện Mèo Vạc. Truyện kể rằng, ngày xưa có một đôi trai gái thuộc hai bộ lạc yêu nhau. Người con gái rất xinh đẹp, bộ lạc của cô không muốn cô lấy chồng sang bộ lạc khác; còn bộ lạc bên chàng trai lại muốn cô về làm dâu bộ lạc của mình. Chính vì vậy mà hiềm khích giữa hai bộ lạc xảy ra. Mối thù của hai bộ lạc càng nhân lên khi tình yêu của họ càng thắm thiết. Một ngày kia, khi người con trai đang ngồi với người yêu của mình trên núi thì nhìn thấy cảnh tượng hai bộ lạc đang đánh nhau rất quyết liệt ở phía dưới. Họ biết tình yêu của họ là nguyên nhân chính. Để tránh đổ máu giữa hai bộ lạc, hai người đau đớn quyết định chia tay và hẹn sẽ gặp nhau mỗi năm một lần đúng vào ngày ấy. Địa điểm gặp nhau tại nơi họ vẫn thường hò hẹn - Khâu Vai. Dần sau đó, Khâu Vai trở thành nơi hò hẹn chung cho tất cả những người yêu nhau trong vùng. Chợ Khâu Vai ban đầu họp không có người mua, không có người bán. Khoảng mười năm trở lại đây, do nhu cầu cuộc sống nên ngày chợ họp ngoài việc hò hẹn, gặp gỡ, người ta mang cả hàng hóa đến bán ở chợ. Do vậy đến chợ Khâu Vai, người ta cũng có thể mua, bán, trao đổi những sản vật.

Hà Giang là nơi có nhiều sản phẩm văn hóa đặc sắc từ truyền thống lâu đời của các dân tộc, một địa danh du lịch đáng nhớ bởi cảnh quan thiên nhiên và con người ở đây. Lễ mừng nhà mới dân tộc Lô Lô  kéo dài khoảng 2 ngày 2 đêm ở ngôi nhà mới của người dân tộc Lô Lô. Cả bản kéo tới ăn mừng cho ngôi nhà mới. Thầy cúng đi hát, sau đó cùng ăn uống vui chơi, hòa tấu kèn sáo và hát giao duyên nam nữ. Lễ hội mùa xuân của dân tộc H'mông và dân tộc Dao, thường được tổ chức vào những ngày sau Tết Nguyên Đán và kéo dài từ 3 đến 7 ngày. Lễ hội mang tính chất tổng hợp mừng công, cầu mưa, cầu con trai. Lễ hội có thi bắn nỏ, hát giao duyên, ném pa páo, uống rượu, mở tiệc đãi khách.

Không giống với bất kỳ một nơi nào ở Việt Nam, đến Hà Giang, chúng ta có thể thấy được những sản phẩm kết tinh từ truyền thống văn hóa độc đáo của đồng bào miền núi nơi đây với những nét đặc trưng mến thương và vô cùng quyến rũ.

CB

Nơi địa đầu Tổ quốc

Tin chung Trackbacks (0) Bản in góp ý (72)   

Từ xa xưa người Hải Phòng đã đến Móng Cái lập nghiệp. Và giờ đây, khi ngồi uống bát rượu do đồng hương Hải Phòng rót mời bên rừng dương Trà Cổ. Chúng tôi nao nao khi nhớ về câu thành ngữ: "Quê Trà Cổ, Tổ Đồ Sơn
"


Quê Trà Cổ, Tổ Đồ Sơn      

Lâu nay, Trà Cổ được biết đến như một điểm du lịch hấp dẫn với bãi cát dài, sạch, chạy dọc theo rừng dương xanh hút phía chân trời... Nhà thơ Tố Hữu viết: "...Từ Trà Cổ rừng dương/ Đến Cà Mau rừng đước...". Nhưng có một Trà Cổ mang đậm nét văn hóa người Việt từ xa xưa, với những di tích văn hóa còn nguyên dấu vết của những người đầu tiên đến khai sơn, phá thạch hòn đảo địa đầu Tổ quốc này. Nhìn trên bản đồ hành chính của thị xã Móng Cái, Trà Cổ hệt như chiếc thuyền đầy cát lồ lộ thách thức trước biển cả khôn cùng. Có lẽ vì địa thế này mà Trà Cổ mang đặc trưng phong phú của một nền văn hóa của những người nhập cư vào đây hơn 500 năm qua - nếu chỉ tính thời điểm từ khi có lệ thờ thành hoàng làng đến nay, còn nếu tính xa hơn khi những cư dân đất Việt đến lập cư nơi đây, thì có lẽ phải là ngàn năm mới đúng... Hiếm có một làng quê nào trên đất nước ta lại tập trung đủ tín ngưỡng như ở nơi đây. Làng có đình, chùa, miếu, lại có cả nhà thờ Thiên Chúa giáo. Theo nhiều nguồn tư liệu của chính sử và dã sử thì ngôi đình cổ kính của Trà Cổ thờ tới sáu ông Thành Hoàng làng - một điều lạ trong tín ngưỡng của người Việt. Chuyện xưa kể rằng, có một đoàn thuyền gồm 12 người từ biển Đồ Sơn đến lập nghiệp, sau một thời gian nhập cư, 6 người không ở lại một mực tìm về cố hương đã hát rằng: Ở đây ăn bổng lộc gì / Lộc sung thì chát lộc si thì già. Sáu người ở lại bèn đáp: Ở đây vui thú non tiên / Rạng ngày lọc nước lấy tiền nuôi nhau      

Vì thế ở Trà Cổ có câu thành ngữ quen thuộc "Trà Cổ tổ Đồ Sơn". Hàng năm cứ vào ngày 1 tháng 6 âm lịch, làng tổ chức vào đám rất linh đình. Điều đặc biệt là trước khi vào đám, làng thành lập một đội tế rước có khoảng hai mươi trai tráng tham gia và có một đến hai ông được tôn làm "cai đám", các ông này sẽ giám sát và tổ chức rất chặt chẽ, bài bản và có nguyên tắc các hoạt động trong những ngày diễn ra lễ hội. Làng tổ chức lễ rước miếu Ông rất lớn và thành lệ trước khi làng vào đám, bắt buộc phải rước Ông - miếu thờ Tướng quân Nguyễn Hữu Cầu. Theo như các vị lão làng thì Nguyễn Hữu Cầu - vị tướng thất cơ đã về đây gác kiếm ở ẩn. Nhờ có đôi câu đối trong miếu:  Trà loan hải đảo cam tuyền hữu/ Cổ độ cơ tâm võng nguyệt cầu. Ý là nơi đây có một tâm hồn lớn, trong sáng đến cư ngụ - đó là ông Nguyễn Hữu Cầu mà qua nhiều thời đại dân làng Trà Cổ không hề biết, chỉ quen gọi là miếu Ông. Theo nhà giáo lão thành Đoàn Chấn - nguyên học trò của nhà văn, nhà giáo Nguyễn Công Hoan tại làng Trà Cổ kể rằng: Căn cứ theo nhiều sách sử, "Trà Cổ tổ Đồ Sơn" còn ở một nguyên cớ nữa là Mạc Đăng Dung cùng đám tàn quân lánh nạn đến Trà Cổ sinh cơ lập nghiệp bèn đặt lại tên làng Vạn Gia (tên làng Trà Cổ cũ) thành tên Trà Cổ do ở quê gốc nhà Mạc có hai địa danh tên là Trà Phương và Cổ Trai ở đất Nghi Dương xưa, nay là Đồ Sơn, ghép lại mà thành chữ Trà Cổ! Hư thực thế nào chưa rõ nhưng dấu tích nhà Mạc còn lưu lại trên đất Trà Cổ khá nhiều như: sông Cầu Voi còn gọi là sông nhà Mạc, bát gốm còn gọi là bát nhà Mạc, nghề làm gốm tại Móng Cái phát triển, có lẽ được duy trì từ thuở ấy để giờ Móng Cái có phố Lò Bát!
       

Trà Cổ đã thành phường sau năm năm Móng Cái thành thị xã, nhưng Trà Cổ vẫn mang dáng dấp của một làng cổ như khi xưa được chia thành sáu giáp: Bình La, Đông Thịnh, Nam Thị, Sa Vĩ, Tràng Lộ và Ngọc Sơn. Vẫn những ngôi nhà hình ô vuông bàn cờ với những mái ngói cũ kỹ sậm màu thời gian chạy dọc những con đường bên bờ biển cuồn cuộn cát. Một Trà Cổ trầm tĩnh trước biển cả, một Trà Cổ còn nguyên sơ với thời gian, một Trà Cổ đầy bí ẩn... Ngoài ngôi đình cổ hơn 500 năm còn có ngôi chùa Linh Khánh ở phía Bắc làng xây hình chữ Hồi độc đáo có tuổi thọ 240 năm, có hơn 50 pho tượng và nhiều đồ thờ quý, trong đó có những bức tượng lạ lùng trong phong cách thể hiện của nghề tạc tượng như tượng Tam Thế, tượng Quan âm tọa sơn, tượng Thích Ca sơ sinh từ thế kỷ thứ XVI... Chùa có hai ngày hội chính là 17 tháng 1 và 8 tháng 4 âm lịch hàng năm. Ngoài miếu Ông thờ Nguyễn Hữu Cầu, làng còn có miếu Bà thờ Thánh Mẫu Việt Nam... Cùng với những công trình đình chùa miếu trên, Trà Cổ còn có một nhà thờ Thiên Chúa giáo ở phía Nam hòn đảo được xây dựng năm 1914 đã góp thêm một công trình kiến trúc hoành tráng cho đất Trà Cổ. Dân Thiên Chúa giáo nhập cư vào đây năm 1884 và hiện nay họ có khoảng 700 giáo dân tập trung chủ yếu tại khu vực Tràng Lộ.
        

Trong quá trình khai khẩn và phát triển, một thương nhân người Trà Cổ có tên là Bùi Văn Chu, dân Trà Cổ quen gọi là Hàn Chu đã được nhà nước Nam Triều- Bảo Đại phong tặng cho chức Hàn lâm do góp nhiều công của xây dựng cho đất Trà Cổ. Vào năm 1922 ông đã bỏ tiền xây dựng hai phòng học và về đất liền mời thầy đến dạy học cho người Trà Cổ (đó chính là ngôi trường nơi nhà văn Nguyễn Công Hoan đến dạy học vào năm 1939). Ngoài ra ông còn xây chợ, vận động 17 hộ dân tham gia đắp đê ngăn mặn để làm nông nghiệp, trồng cây chắn cát. Vì thế mà bây giờ người dân Trà Cổ vẫn quen gọi một con đê cạnh làng là đê Hàn Chu. Ông không những giàu lòng, giàu của cống hiến mở mang lân ấp cho Trà Cổ mà còn là một người cha yêu nước có bốn người con tham gia cách mạng từ tiền khởi nghĩa trong đó có một con trai là liệt sĩ.

Nói đến Trà Cổ, còn phải nói đến một làng quê đóng thuyền buồm cánh dơi rất nổi tiếng, loại thuyền này rất được ưa chuộng thuở ấy và được đưa đi triển lãm tại Pari (Pháp) năm 1943- 1945. Bây giờ người Trà Cổ ở Sài Gòn còn mang theo nghề của cha ông mình làm thuyền nhỏ bán rất chạy trên thị trường quà lưu niệm. Với địa lý đặc biệt nên người Trà Cổ ngoài nghề đánh bắt hải sản còn có nghề thương lái trên biển rất giỏi. Họ giàu lên nhờ nghề này, nhưng vẫn nhắc nhau cái sự nghèo để lam làm hơn: Mỗi người một đòn gánh cong/ Năm canh chỉ ngủ với chồng có hai. Đủ thấy người Trà Cổ từ xưa xây cơ, dựng nghiệp đều từ bàn tay trắng. Bao thế hệ nối tiếp của người Trà Cổ không ngừng nỗ lực đi lên, vượt đò, vượt sông, tầm sư học đạo để nuôi chí lớn xây dựng quê hương ngày một giàu đẹp hơn. Để khi thong thả người Trà Cổ lại lạc quan hát rằng:  Tắt nắng chiều anh vẫn đứng trông theo/ Gò má thắm cô gái làng Trà Cổ. Hẳn cảnh thơ, người đẹp từ xa xưa đã tạo nên một Trà Cổ đầy hấp dẫn mang đậm đà bản sắc văn hóa dân tộc nơi tiền biên của Tổ quốc này.

CB

Nắng gió Buôn Ma Thuột

Tin chung Trackbacks (0) Bản in góp ý (60)   


Nắng gió Buôn Ma Thuột

Cuối thu này, tiếng gọi từ đại ngàn Tây Nguyên với thủ phủ Buôn Ma Thuột vốn đã hấp dẫn những trái tim sôi nổi, lại được trọn vẹn hơn bởi tình cảm anh em kiến trúc sư trẻ lâu ngày xa cách. Dưới sự chỉ đạo của Hội kiến trúc sư Việt Nam, Ban điều hành Kiến trúc sư trẻ cả nước, Hội kiến trúc sư Đắk Lắk và chính các bạn Kiến trúc sư trẻ chủ nhà đã tổ chức một ngày hội được mong chờ đã lâu: Trại kiến trúc sư trẻ toàn quốc lần III - từ ngày 29/10/2009 đến ngày 1/11/2009. Hơn 400 kiến trúc sư đến từ 40 tỉnh thành trong toàn quốc đã về với Buôn Mê Thuột. Đoàn Kiến trúc sư trẻ thành phố Hải Phòng có 7 kiến trúc sư tham gia Hội trại Kiến trúc sư trẻ toàn quốc lần 3 tổ chức tại Buôn Ma Thuột dịp này. Đến với Đăk Lắc, chúng ta  đã cùng thảo luận về chủ đề "Kiến trúc sư trẻ chung sức vươn lên trong sáng tạo" với mục tiêu làm rõ nhưng thách thức và cơ hội của KTS trẻ Việt Nam phải đối đầu trong cuộc canh tranh nghề nghiệp đầy thủ thách trong quá trình hội nhập hiện nay. Sau khi thăm quan Thành phố và vùng phụ cận, chúng ta lại tiếp tục lắng nghe và góp ý cho không gian Quy hoạch và tổ chức kiến trúc của Đắc Lăk thông qua hội thảo "Tầm nhìn phát triển thành phố Buôn Ma Thuột" do UBND Tỉnh và Hội KTS Việt Nam đồng tổ chức.


Buôn Ma Thuột
(hay Ban Mê Thuột) là thành phố tỉnh lị của tỉnh Đắk Lắk và là thành phố lớn nhất ở vùng Tây Nguyên Việt Nam. Buôn Ma Thuột gốc tiếng Ê Đê, nghĩa là "bản hoặc làng của Ama Thuột", nó xuất phát từ tên gọi buôn của A ma Thuột - tên một vị tù trưởng giàu có và quyền uy nhất vùng; để rồi từ đây hình thành nên các buôn làng xung quanh, phát triển thành thành phố Buôn Ma Thuột ngày hôm nay.

Thuở xưa, đây là vùng đất của người Ê Đê Kpă với khoảng 50 nhà dài Ê Đê nằm dọc theo suối Ea Tam do tù trưởng A Ma Thuột cai quản.

Với lợi thế là trung tâm của Đắk Lắk cũng như toàn Tây Nguyên, một vị trí có tầm chiến lược về quân sự và kinh tế của cả vùng, lại nằm gọn trên một cao nguyên đất đỏ màu mỡ và bằng phẳng, năm 1904, khi tỉnh Đắk Lắk được thành lập, Buôn Ma Thuột được chọn làm cơ quan hành chính của tỉnh này thay cho Bản Đôn. Ngày 5 tháng 6 năm 1930, Khâm sứ Trung Kỳ ra nghị định thành lập thị xã Buôn Ma Thuột.  Dưới thời Việt Nam Cộng hòa thị xã này có tên là Ban Mê Thuột. Ngày 10 tháng 3 năm 1975, Quân đội nhân dân Việt Nam bất ngờ tiến đánh Buôn Ma Thuột, mở đầu cho chiến dịch Hồ Chí Minh.

Năm 1995, Buôn Ma Thuột được công nhận là đô thị loại 3, và đến năm 2005 là đô thị loại 2. Phấn đấu đến năm 2010 là đô thị loại 1 cấp quốc gia.
Diện tích của thành phố khoảng 370 km², dân số 340.000 người. Trong đó diện tích nội thành khoảng 50 km². Thành phố này có 43.469 người dân tộc thiểu số, sinh sống tại 33 buôn, trong đó có 7 buôn nội thành, đông nhất là người Êđê. Dân số nội thành khoảng 230.000 người.
Thành phố Buôn Ma Thuột có 13 phường, 8 xã. Đặc biệt có 7 buôn (làng) nội thành với gần chục nghìn người Êđê, họ vẫn giữ kiến trúc nhà ở và lối sản xuất riêng ngay trong lòng thành phố. Khu trung tâm, gồm các phường: Tân Tiến, Thắng Lợi, Thống Nhất, Thành Công, Tân Lợi, Tự An, Tân Lập, Tân Thành;  Khu cận trung tâm, gồm các phường: Tân Hòa, Thành Nhất, Ea Tam, Tân An; Khu ven nội, gồm các phường, xã: Khánh Xuân, Cư Êbur, Hòa Thắng, Hòa Khánh, Hòa Thuận, Ea Tu, Ea Kao, Hòa Phú, Hòa Xuân.
Do Buôn Ma Thuột là nơi đầu tiên người Kinh lưu lạc đến lập nghiệp để xây dựng Đăk Lăk hôm nay nên ở đây tập trung hầu hết các di tích có ý nghĩa lịch sử của Đăk Lăk như: Đình Lạc Giao, Chùa Sắc tứ Khải Đoan, Nhà dài Buôn Ma Thuột, Bia Lạc Giao, khu Biệt điện Bảo Đại - hiện tại là Bảo tàng các dân tộc Việt Nam tại Đắk Lắk, Toà Giám mục tại Đắk Lắk.

Với vị trí trung tâm và giao thông thuận tiện Buôn Ma Thuột cũng chính là trung tâm du lịch lớn nhất của Đăk Lăk nối các điểm du lịch quan trọng trong tỉnh như Bản Đôn, Hồ Lắk, cụm thác Đray Sáp...
Ngã 6 Ban Mê là trung tâm thành phố Buôn Ma Thuột, nằm trên giao điểm của quốc lộ 14 và quốc lộ 26 đi qua thành phố. Ở đây có Tượng đài chiến thắng Buôn Ma Thuột được coi như biểu tượng của thành phố cũng giống như Tháp Eiffel của Paris hay Tượng Nữ thần Tự do ở New York.
Do bài hát Bóng cây Kơ-nia nổi tiếng vì vậy du khách khi đến Buôn Ma Thuột luôn muốn tìm xem tận mắt cây Kơ Nia. Ở trung tâm thành phố Buôn Ma Thuột có một cây Kơ nia cổ thụ nằm trong khuôn viên sân sau nhà văn hóa trung tâm tỉnh, cách ngã 6 Ban Mê vài trăm mét
Ở Đắk Lắk gần như huyện nào cũng có trồng cà phê, nhưng cà phê Buôn Ma Thuột vẫn luôn được đánh giá là có chất lượng cao nhất và có hương vị đặc trưng nhất, chính vì vậy thương hiệu Cà phê Buôn Ma Thuột được thế giới biết đến và địa danh Buôn Ma Thuột được nhiều người ví như "thủ phủ cà phê".

Chương trình  Hội trại Kiến trúc sư trẻ toàn quốc lần 3 tổ chức tại Buôn    Thuột thật phong phú, kết thúc ấn tượng với đêm Gala có tên gọi "Giấc mơ Ban Mê", chúng ta cùng múa hát bên ánh lửa bập bùng trong lạnh mát của sương giá ven hồ Lắk huyền thoại.
Hẹn gặp lại các bạn Kiến trúc sư trẻ toàn quốc trong Hội trại Kiến trúc sư trẻ Toàn quốc lần 4 tại thành phố Cần Thơ.

CB

Thuốc lào Vĩnh Bảo quê tôi

Tin chung Trackbacks (0) Bản in góp ý (76)   


Thuốc lào Vĩnh Bảo quê tôi


Chị Kim Thanh (Phù thủy gáo dừa) quê ở Vĩnh Bảo, Hải Phòng, hiện đang sống và làm việc tại Thành phố Hồ Chí Minh có đặt Cát Biển một bài viết về "Thuốc lào Vĩnh Bảo". Nhân những ngày nghỉ cuối tuần, xin đưa lên blog tặng chị Kim Thanh và mời các bạn đọc cho vui.

Huyện Vĩnh Bảo cách trung tâm thành phố Hải Phòng 40km, tiếp giáp với hai tỉnh Hải Dương, Thái Bình và huyện Tiên Lãng. Vĩnh Bảo có diện tích 18.019,06 ha, dân số 172.698 người. Có 1 thị trấn Vĩnh Bảo và 29 xã: An Hoà, Cao Minh, Cổ Am, Cộng Hiền, Vĩnh Tiến, Đồng Minh, Giang Biên, Hiệp Hoà, Hoà Bình, Hùng Tiến, Hưng Nhân, Liên Am, Lý Học, Nhân Hoà, Tam Cường, Tam Đa, Tân Hưng, Tân Liên, Tiền Phong, Thanh Lương, Thắng Thuỷ, Trung Lập, Trấn Dương, Vinh Quang, Vĩnh An, Vĩnh Long, Vĩnh Phong, Vĩnh Tiến, Việt Tiến.

Thời Hùng Vương, Vĩnh Bảo thuộc bộ Dương Tuyên, một trong 15 bộ của đất Văn Lang xưa. Thời Tần, thuộc Tượng Quận. Thời Hán, thuộc Giao Chỉ. Thời Trần, thuộc Hải Đông. Thời Minh thuộc Tân An...Tên gọi Vĩnh Bảo chỉ có trên 100 năm nay. Vào năm 1838, huyện Vĩnh Bảo được thành lập theo đề nghị của tổng đốc Hải Dương Nguyễn Công Trứ. Năm 1952 huyện Vĩnh Bảo được sáp nhập vào tỉnh Kiến An. Ngày 27.10.1962, tỉnh Kiến An và thành phố Hải Phòng hợp nhất, Vĩnh Bảo là một huyện ngoại thành, vào loại lớn và xa trung tâm thành phố nhất. Ngày 18.3.1986, thành lập thị trấn Vĩnh Bảo. Hệ thống sông ngòi ở Vĩnh Bảo có vai trò giao thông quan trọng, với các sông lớn như: sông Thái Bình, sông Hoá, sông Luộc,...

Thuốc lào Vĩnh Bảo là đặc sản quê tôi với diện tích 200ha, sản lượng khoảng 210 tấn/ năm. Qua cánh đồng trồng thuốc lào, những cây thuốc thân thấp mập mạp lá to đang kỳ bánh tẻ, mùi thuốc lá thoảng lẫn trong vị ngọt ngào của ngô non và đòng đòng quanh đấy, như một sự tẩm ướp tinh tế. Đến Vĩnh Bảo nghe người Vĩnh Bảo rít thuốc lào thì khỏi phải nói, chưa làm một điếu cày cũng cảm thấy ngây ngây say, say vì cái dáng vẻ điệu nghệ của người vùng quê hương thuốc lào nhả khói thơm lừng. Ca dao về thuốc lào Vĩnh Bảo có câu:
Nhớ ai như nhớ thuốc lào
Đã chôn điếu xuống lại đào điếu lên.

Các nghề tiểu thủ công nghiệp truyền thống ở Vĩnh Bảo thật phong phú: điêu khắc ở Đồng Minh, dệt chiếu ở Trấn Dương, dệt vải ở Cổ Am, mây tre ở Tân Hưng, thảm đay ở An Hoà, đồ gốm ở Tân Hưng,...  Trên địa bàn huyện có nhiều chợ ra đời sớm như: chợ Cát ở Tam Cường, chợ Cõi ở Cao Minh, chợ Mét ở Dũng Tiến,...
Đất Vĩnh Bảo có nhiều danh nhân, trong đó nổi bật là danh nhân văn hóa Trạng Trình Nguyễn Bỉnh Khiêm. Các cụ già đất Vĩnh Bảo kể lại: "Cụ Trạng tiên lượng việc vị lai như thần. Cái câu ''Bao giờ Tiên Lãng chia đôi, sông Hàn nối lại thì tôi lại về'', đến bây giờ mới rõ. Cái năm cầu phao sông Hàn được bắc nối hai huyện Tiên Lãng - Vĩnh Bảo; con sông đào cổ xưa chảy ngang qua Tiên Lãng bị bỏ lấp từ lâu được khơi lại; thì ngay sau đó rộ lên hội thảo, sưu tầm khảo cứu về danh nhân văn hoá Nguyễn Bỉnh Khiêm. Rồi văn thơ Nguyễn Bỉnh Khiêm được in ra, cả ''Sấm Ký Trạng Trình'' nữa. Thiên tài của Người đã được công nhận và tôn vinh. Thế là Người đã về đúng với ngôi vị của mình. Một thời Sấm Ký bị coi là sách mê tín dị đoan. Bây giờ dùng Lý học mà suy thì có nhiều việc đã xảy ra rất linh nghiệm"

Văn hoá nghệ thuật dân gian Vĩnh Bảo mang nhiều nét cổ xưa, phong phú và đa dạng, thể hiện qua hội làng với hát chèo, hát ví, ca dao, hò vè, rối nước, rối cạn, một số tập tục như thả đèn trời, ném pháo đất, đặc biệt là môn vật, có truyền thống lâu đời.
Hệ thống đình, chùa Vĩnh Bảo mang nét kiến trúc nghệ thuật điêu khắc độc đáo, như: đình Cung Chúc ở Trung Lập, đình An Quý ở Cộng Hiền, đình Lễ Hợp ở Tam Đa, miếu Cựu Điện ở Nhân Hoà, đình Vĩnh Lạc ở Tiền Phong, đình Từ Lâm ở Đồng Minh, miếu Tràng ở Cổ Am, chùa Thái ở Trấn Dương, đình Quán Khái ở Vĩnh Phong,...

Vĩnh Bảo bây giờ còn là địa điểm "du lịch, du khảo đồng quê" lý thú của thành phố Hải Phòng. Tuyến du khảo đồng quê này gồm liên đới 3 xã: Đồng Minh, Lý Học và Vĩnh Phong. Tại mỗi xã đều có nét đặc thù riêng mà không nơi nào có được. Xã Đồng Minh với làng nghề điêu khắc truyền thống độc đáo. Đi dài theo con đường làng, du khách có dịp chiêm ngưỡng những nghệ nhân là những cô gái trẻ đẹp với đôi tay như múa với cây đục, tạo hồn cho những bức tượng. Khách đến Vĩnh Phong, nghe văng vẳng từ xa tiếng chuông chùa vọng lại, ngôi chùa cổ An Lạc xây dựng gần 500 năm, với hàng trăm pho tượng cổ quý hiếm.

Đến với Vĩnh Bảo, du khách còn gặp lại nếp nhà xưa truyền thống một thời của nông thôn miền Bắc, mái ngói tường rêu và cái ao trước mỗi sân nhà, mặt nước xanh màu phong sương cũ. Sáng sáng chiều chiều, các cô thôn nữ duyên dáng ngồi giặt áo bên cầu ao. Và gặp nét dí dỏm của điếu thuốc lào Vĩnh Bảo khi một hơi thuốc rút đến kiệt lửa đóm, rồi phả khói mù mịt làm cảnh vật trước mắt chập chờn ẩn hiện như thực như ảo:
Thoáng bóng ai về trong khói thuốc
Mắt cười lúng liếng lá răm tươi
...

Sách "Vân Đài loại ngữ" của Lê Quý Đôn và tập "Đồng Khánh dư địa chí" gọi cây thuốc lào là: Tương tư thảo.
Vĩnh Bảo, vùng đất văn nhân hào kiệt có danh nhân văn hóa Trạng Trình Nguyễn Bỉnh Khiêm, và có một loài cây kỳ thú mang cái tên gợi thương nhớ như vậy đấy bạn ạ.

CB

Hậu Lộc mùa thu này

Tin chung Trackbacks (0) Bản in góp ý (61)   


HẬU LỘC MÙA THU NÀY

Hậu Lộc là một huyện đồng bằng ven biển, cách trung tâm thành phố Thanh Hóa 25 km về phía đông bắc. Phía bắc giáp huyện Nga Sơn, Hà Trung. Phía nam và phía tây giáp huyện Hoằng Hóa. Phía đông giáp biển đông.
Hậu Lộc là một vùng đất có bề dày lịch sử và truyền thống văn hóa. Năm 1973& 1976, các nhà khảo cổ học đã phát hiện di chỉ văn hóa Hoa Lộc và Gò Trũng (Phú Lộc) niên đại cách đây 4.000- 5.000 năm. Điều đó chứng tỏ con người tiền sử ở Hậu Lộc sớm phát triển nền văn minh lúa nước, chăn nuôi và đánh bắt. Người dân Hậu Lộc có tinh thần yêu nước nồng nàn, là cái nôi của cách mạng Việt Nam. Từ xa xưa, mãnh đất này đã sản sinh và nuôi dưỡng nên nhiều anh hùng dân tộc như: Triệu Thị Trinh (Bà Triệu), Phạm Bành (Hòa Lộc), Đinh Chương Dương (Hải Lộc), Lê Hữu Lập (Xuân Lộc)- Bí thư tỉnh ủy lâm thời đầu tiên của Thanh Hóa, Nguyễn Chí Hiền (Hòa Lộc), Mẹ Tơm,...

Hậu Lộc là một huyện có bề dày về lịch sử văn hóa với hàng chục di tích lịch sử văn hóa được xếp hạng quốc gia và tỉnh như: Di tích Đền Bà Triệu (Triệu Lộc), Chùa Sùng Nghiêm Diêm Thánh (Thờ Trần Hưng Đạo- Làng Duy Tinh, Văn Lộc),...
Bên cạnh việc bảo vệ gìn giữ bản sắc văn hóa dân tộc, Hậu Lộc đã tập trung thực hiện phong trào "Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hóa cơ sở". Điển hình là các phong trào xây dựng làng văn hóa, cơ quan, đơn vị văn hóa. Trong đó, làng Duy Tinh (Hay còn gọi là làng Chợ Phủ- xã Văn Lộc) là một điển hình về xây dựng đơn vị văn hóa của cả nước.

Có thể nói, Hậu Lộc xưa và nay như một tỉnh Thanh Hóa thu nhỏ bởi nơi đây có đầy đủ những tiềm năng để phát triển kinh tế một cách toàn diện. Với sự giàu có về tiềm năng cả ba vùng: Vùng đồi, vùng đồng bằng và vùng ven biển.
Ngoài việc khai thác có hiệu quả vùng đồi bằng việc hình thành các trang trại VAC, trang trại vườn rừng, vườn cây ăn quả, nhân dân còn tiến hành trồng rừng phủ xanh đất trống đồi núi trọc, trồng cây chắn sóng lấn biển (Năm 2002 toàn huyện có: 1.298,58 ha rừng). Với 12 km đường bờ biển cùng hai cửa lạch lớn (Lạch Trường và Lạch Sung) đây không chỉ là tiềm năng để phát triển kinh tế biển mà còn là nơi thăm thú, du lịch, giải trí rất tuyệt vời. Biển Hậu Lộc có độ mặn cao, kết hợp với khí hậu nắng gió đã tạo nên nghề làm muối truyền thống (Có từ năm 1897) chủ yếu một số xã ven biển như: Hòa Lộc, Minh Lộc, Đa Lộc, Hải Lộc và Ngư Lộc (Là Diêm Phố xưa kia). Nhà thơ Tố Hữu từng viết về Hậu Lộc:

Ghé thăm Hậu Lộc, chợ Dầu
Rẽ qua Hanh Cát, Hanh Cù làng xưa
Rừng phi lao dịu nắng trưa
Xoã xanh mái tóc, hàng dừa đưa duyên
Biển vui sóng dỡn mạn thuyền
Mát chân lối cát, chẳng quen ngõ về...
(Hậu Lộc- Tố Hữu)

Và nhà thơ Trần Tâm xuất phát từ tình yêu quê hương, giờ tuy ở một nơi cách Hậu Lộc gần 1000 km đã có một bài thơ viết về Hậu Lộc như sau:

HẠT MUỐI QUÊ TÔI

Ngắm nhìn hạt muối mến thương...
Thân sao trong trắng lạ thường muối ơi?
Những trưa hè mẹ đem phơi
Bao dòng nước biếc, mặn tươi thắm nồng
Mồ hôi mẹ chảy thành sông...
Ngấm vào tình đất ruộng đồng quê ta
Nên dù muối có đi xa
Ra nơi hải đảo hay qua phố phường
Dẫu rằng đi khắp bốn phương
Sao em vẫn mặn vấn vương lòng người?
Quê tôi! Hạt muối bao đời...
Nuôi làng quê nhỏ với người quê tôi
Về thăm Hậu Lộc quê tôi...
Cùng nhau xem lại cái nôi làng nghề
Biển Diêm Phố ngắm thấy mê
Nhà cao san sát bờ đê trải dài
Rừng phi lao tạo vành đai
Dang tay che chắn làng chài bao năm
Người làm muối nước da ngăm...
Vì nắng gió biển ghé thăm đêm ngày
Còn vì cả những tháng ngày
Phơi dòng nước mặn thành khay muối nồng
Nên em... Hạt muối biết không?
Mặn vì thắm đượm bao công sức người.

Trần Tâm

Hậu Lộc có đầy đủ ba dạng địa hình, từ đồng bằng thuộc các xã: Lộc Tân, Thịnh Lộc, Xuân Lộc, Hoa Lộc, Phú Lộc..., đến vùng đồi núi thuộc các xã: Triệu Lộc, Tiến Lộc, Thành Lộc, Châu Lộc, Đại Lộc, Đồng Lộc... và ven biển là các xã: Hòa Lộc, Ngư Lộc, Hải Lộc, Liên Lộc. Mùa thu này về Hậu Lộc, có thêm bao cảm nhận mới mẻ về quê hương mình...

CB

Thư gửi Cát Biển lần thứ 3

Tin chung Trackbacks (0) Bản in góp ý (58)   
 

http://catbien.vnweblogs.com/

            THƯ GỬI CÁT BIỂN LẦN THỨ BA

Trần Quốc Minh

            Kỷ niệm một năm ngày khai sinh Blogs Cát Biển 29/ 8/ 2008- 29/ 8/ 2009 và chào đón người đọc thứ 100.000 tôi vui mừng viết lá thư thứ 3 gửi Cát Biển yêu quí.

            365 ngày đã đi qua, riêng Cát Biển đã lưu lại bao tình cảm thắm thiết. Tôi không còn nhớ mình đã được giới thiệu bao nhiêu bài thơ, truyện mini, nhiều bài viết về tác giả Hải Phòng... nhưng tấm lòng của nhà thơ Minh Trí đối với các tác giả thì tôi nhớ.

            Khi tôi giới thiệu Tuyển tập thơ Đào Cảng, nhân 20 năm ngày mất của anh (1987-2007) do chị Bích Hạnh, vợ nhà thơ sưu tầm và xuất bản, Cát Biển có gần trăm góp ý; mến mộ tài thơ Đào Cảng và tình yêu của chị Hạnh với chồng.

            Rồi chị Bích Hạnh từ thành phố Hồ Chí Minh về Hải Phòng xây mộ cho nhà thơ Đào Cảng; Cát Biển cũng báo cho nhiều bạn đọc. Cuộc gặp gỡ cảm động giữa vợ nhà thơ và bạn đọc Cát Biển, chị Hạnh nói lời biết ơn và tặng sách cho những ai đến dự.

            Lễ tưởng niệm nhà thơ Đào Cảng được tổ chức trang trọng và xúc động một phần lớn nhờ Cát Biển và những người yêu mến Cát Biển.

            Một trường hợp nữa cũng làm cho nhiều người suy nghĩ: Đó là Phạm Kim Dung, em tài hoa nhưng bất hạnh. Khi Cát Biển giới thiệu truyện ngắn Hạnh phúc trong mưa của tôi, rồi bài viết của Thúy Ngoan, người đọc cảm thương với cuộc đời Dung, chia xẻ với em khi Dung bị căn bệnh nan y, cho đến khi Phạm Kim Dung vĩnh biệt cõi đời! Cát Biển lại cho đăng những bài viết về Dung trong bốn ngày liền.

            Cát Biển luôn nhớ tới những người đã khuất bằng những bài giới thiệu công phu: Các bài viết về nhà văn Nguyên Hồng, nhà thơ Lê Đại Thanh, nhà thơ Đào Cảng, nhà thơ Thúc Hà, họa sĩ Thọ Vân...

            Các nhà văn: Bão Vũ, Đoàn Lê, Đình Kính... Các nhà thơ: Phạm Ngà, Thi Hoàng, Phạm Xuân Trường... đều có bài  trên Cát Biển.

            Cát Biển còn giới thiệu phong trào thơ văn rộng lớn của Hải Phòng với các tác giả thành danh và đang thành danh: Lương Văn Chi, Thúy Ngoan, Phạm Xuân Hiếu, Nguyễn Cường, Trần Tích Thiện...

            Cát Biển còn giới thiệu các tác giả ngoài Hải Phòng như: Bùi Đức Vinh, Nguyễn Văn Học...

            Riêng tôi coi Cát Biển như một người bạn tâm tình, luôn hồi hộp chờ đợi mỗi ngày... Khi gặp Blogs Cát Biển, con trai tôi mới mua cho tôi máy tính, truy cập còn lúng túng nói gì đến đánh văn bản! Thế rồi mấy người bạn viết bảo tôi gửi bài qua Email, tôi bảo chưa biết! Bạn nặng lời: Thế ông mua máy tính làm gì? Tôi cãi lại: Để đọc báo!

            Nhà văn Bão Vũ thương, soạn riêng cho tôi Đánh máy văn bản thực hành (Bão Vũ soạn riêng cho Trần Quốc Minh)- tôi mò mẫm tập đánh, chỉ một tuần sau đã thạo, tuy mới ở mức mổ cò! Tự dưng tôi lại biết ơn lời trách của mấy người bạn văn.

            Từ ngày biết đánh văn bản, tôi lao vào viết, viết trực tiếp trên máy rồi sửa chữa, sướng nhất là lúc gửi đi; bao giờ cũng gửi trước tiên cho Cát Biển!

            Chủ nhân Cát Biển- Nhà thơ Minh Trí người bạn trẻ rất nhiệt tình, luôn động viên người viết, người đọc- Anh còn tổ chức tới thăm gia đình các tác giả; hồi đầu năm nay một đoàn gồm: Minh Trí, Nguyễn Cường, Hoàng Khôi, Thúy Ngoan, Ánh Nguyệt đến gia đình tôi. Đó là một ngày xuân đáng nhớ trong đời người viết.

            Cát Biển là một trang văn học nghiêm túc và sáng tạo. Bởi chủ nhân là nhà thơ, kiến trúc sư Minh Trí còn là Ủy viên Thường vụ Hội Liên hiệp Văn học Nghệ thuật thành phố Hải Phòng. Anh là một Doanh nhân thành đạt, nên có điều kiện quan tâm đến những hoàn cảnh ngặt nghèo.

            Cuối cùng tôi muốn nói tới số lượng đông đảo người đọc Cát Biển. Một Blogs xinh xắn như Cát Biển con số ấy nói lên nhiều điều.

            Tôi đặc biệt tôn trọng và quý mến bạn đọc Cát Biển, họ là những người thông minh và có học vấn, lại sống có tình, luôn quan tâm đến những cảnh đời bất hạnh để động viên giúp đỡ.

            Nhân một năm "Thôi nôi" Blogs Cát Biển, xin chúc chủ nhân, người viết, người đọc, như anh em một nhà- biến Cát Biển thành trang giao lưu tâm tình của bạn hữu bốn phương.

Trần Quốc Minh
.............
Địa chỉ: Lô A6, Cầu thang 4, Tầng 2, Nhà số 16, tập thể Vạn Mỹ,
Quận Ngô Quyền, Hải Phòng
Điện thoại: 031.3752.350;  01262.470.552

Ra mắt Hội Văn hóa Doanh nhân HP

Tin chung Trackbacks (0) Bản in góp ý (64)   

Ngày 8/ 8/ 2009, Ban vận động TL HVHDN HP đã tiến hành tổ chức Đại hội lần thứ nhất Hội Văn hóa Doanh nhân HP. Và hôm nay ngày 9/ 8/  2009, tại Nhà hát Thành phố, Hội Văn hóa Doanh nhân Hải Phòng làm lễ ra mắt. Cát Biển trân trọng giới thiệu bài viết của Nhà văn Đình Kính, Chủ tịch Hội Văn hóa Doanh nhân HP.

VĂN HÓA LÀ CÁI GIÁ ĐỠ ĐỂ PHÁT TRIỂN BỀN VỮNG

Văn hoá là gốc mọi sự. Văn hoá là nền tảng đời sống tinh thần của một quốc gia. Văn hoá không chỉ là mục tiêu, mà còn là động lực để phát triển kinh tế, xã hội. Trên tinh thần ấy, đồng thời nhằm góp phần tạo ra môi trường văn hoá lành mạnh nơi đội ngũ doanh nhân và trong các Doanh nghiệp Hải Phòng, thể theo nguyện vọng và cũng là nhu cầu của các Doanh nhân Hải Phòng, đầu năm 2009, Ban vận động thành lập Hội Văn hóa Doanh nhân Hải Phòng được thành lập và ngày 4 tháng 6 năm 2009, Ủy ban nhân dân thành phố Hải Phòng đã có quyết định cho phép thành lập Hội Văn hóa Doanh nhân Hải Phòng.
Doanh nhân Hải Phòng có mặt trên thương trường khá sớm, những tên tuổi Bạch Thái Bưởi, Nguyễn Sơn Hà, Vạn Vân... được người dân Hải Phòng biết đến, nhưng Doanh nhân thật sự trở thành một đội ngũ, một lực lượng, một trong những động lực để phát triển kinh tế, ấy là từ khi có đường lối đổi mới, chuyển từ nền kinh tế bao cấp sang nên kinh tế thị trường của Đảng. Nghĩa là, đội ngũ này hình thành chưa lâu. Song, với khoảng thời gian không mấy nhiều ấy, bằng sự phát triển và bằng những đóng góp có hiệu quả của mình đối với xã hội, đối với đất nước, các doanh nhân đã khẳng định vị thế trong xã hội để cụm từ doanh nhân, cụm từ các nhà doanh nghiệp trở thành phổ thông, được ghi vào bộ nhớ xã hội, không những thế, các doanh nhân còn có ngày chính thức của mình, ngày Doanh nhân Việt Nam 13 tháng 10. Đây không đơn thuần là vẫn đề chữ nghĩa, mà là vấn đề nhận thức của xã hội, là sự vận động lô gích, vận động đúng quy luật của cuộc sống.
Văn hóa doanh nhân là một khái niệm mới mẻ. Tuy vậy ý thức đó đã có gốc rễ từ xa xưa. Khi đề cập tới sự Giầu các cụ ta bao giờ cũng kèm theo đó là chữ Sang. Sang chính là văn hóa, là cái tâm, là sự lich lãm, cùng hành vi ứng xử. Và sang là tri thức. Để giàu, rất khó, phải đổ trí lực, và mô hôi. Nhưng phấn đấu đạt được chữ sang, khó hơn nhiều. Giàu thì được tôn trọng. Nhưng sang thì được kính nể. Quan niệm của ông bà ta xưa cũng như cách nhìn nhận của xã hội bao giờ cũng đặt chữ Sang cao hơn chữ giầu, chữ Sang trên chữ giầu.
Nghĩa là yếu tố văn hóa rất được coi trọng và luôn đặt đúng vị trí. Văn hóa là hồn cốt của dân tộc. Lịch sử đã chứng minh rằng, một dân tộc muốn tồn tại và phát triển, phải dựa trên nền móng vững chắc của Văn hóa. Lãnh thổ có thể mất, chính quyền cũng có thể mất, nhưng không mất văn hóa thì dân tộc vẫn còn. Hẹp hơn một chút, văn hóa chính là chỗ tựa, là giá đỡ để các Doanh nghiệp và các Doanh nhân tồn tại, ổn định, phát triển bên vững và củng cố thương hiệu. Văn hóa làm nên tài sản vô hình đồng thời văn hóa chính lại là tài sản vô hình của doanh nhân
Xây dựng Văn hóa Doanh nhân và xây dựng nhiều doanh nhân văn hóa là công việc quan trọng và cần thiết. Nó có vai trò không nhỏ trong sự phát triển một đội ngũ Doanh nhân có tâm có tầm, nhằm chấn hưng đát nước. Văn hóa trong doanh nghiệp, trước hết là thực hiện dân chủ rộng rãi và thực chất, là thực hiện công khai minh bạch, sòng phẳng và công bằng, trong đó có sòng phẳng về nghĩa vụ trách nhiệm và quyền lợi. Nghĩa vụ đối với nhà nước, Nghĩa vụ với cộng đồng, và với các thanh viên trong cộng đồng đó bao gôm nghĩa vụ thuế và nghĩa vụ bảo hiểm xã hội.
Một thực tế là, trong những thập niên trước đây, xã hội chưa nhìn nhận mấy đúng và cũng chưa đánh giá mấy hoàn chỉnh và đủ đầy về vai trò, vị trí của các doanh nhân và các nhà doanh nghiệp trong tiến trình phát triển kinh tế xã hội. Xã hội chưa quen với ý thức biết cám ơn, biết tôn trọng, đúng hơn là kính trọng các nhà doanh nghiệp, các doanh nhân. Kính trọng và cám ơn bởi không ai khác, mà chính họ, các doanh nghiệp, các doanh nhân là những người tạo ra của cải vật chất cho xã hội góp phần làm giầu Tổ quốc và nuôi bộ máy của nhà nước. Và bao phúc lợi khác cũng từ đấy mà có v.v..
Doanh nhân với người Việt Nam là hai âm tiết mới lạ. Ngay trong cuốn từ điển tiếng Việt dày 1130 trang khổ lớn do Trung tâm Từ điển học xuất bản năm 1994, nghĩa là cách đây hơn mười năm, trong hàng trăm ngàn vạn từ tiếng Việt, chưa hề có danh từ Doanh nhân. Điều ấy vừa do hoàn cảnh lịch sử, do quan niêm và do nhận thức một thời . Song cũng phải nhìn nhận một cách trung thực, thấu đáo và sòng phẳng rằng sự hẫng hụt yếu tố văn hóa và ý thức văn hóa trong trong sản xuất kinh doanh ở một bộ phận nhỏ nào đấy cũng là một trong những nguyên nhân nói trên
Chỉ trên cơ sở mở rộng biên độ tư duy văn hóa trong nhận thức để dấu ấn văn hóa có được trong mỗi sản phẩm, từ sản phẩm công nghiệp, sản phẩm dịch vụ đến sản phẩm du lịch, vân vân; và chỉ trên cơ sở của sự giao thoa hợp lý giữa văn hóa và sản xuất kinh doanh, các doanh nhân mới thực sự được nể vì và tôn vinh. Hàm lượng văn hóa trong mỗi một đơn vị và cá nhân, trong mỗi sản phẩm họ làm ra là thước đo giá trị của lòng yêu nước và sự tự tôn dân tộc. Thức tỉnh và khởi động tinh thần văn hóa, tính nhân văn trong cộng đồng doanh nhân và cộng đồng các doanh nghiệp chính là mục địch trọng yếu mà  Hội Văn hóa doanh nhân Hải Phòng hướng tới.
Văn hóa được biệu đạt dưới nhiều dạng thức, nhưng chung quy nó mằm trong không gian ba chiều, đó là quan hệ giữa con người và con người, quan hệ giữa con người với thiên nhiên và nhu câu tâm linh. Ba trục ấy tạo nên giao diện nền văn hóa. Từ văn minh lúa nước đến văn minh tin học, kỹ thuật số và cao hơn, văn minh sinh học, là hành trình phát triển của khoa học kỹ thuật và tri thức con người. Trong quy trình đi lên ấy, văn hóa luôn đóng vai trò xúc tác và thúc đẩy, nhưng gần như vẫn chỉ là một hằng số.
Nhiệm vụ hàng đầu của Hội Văn hóa Doanh nhân là thổi được hồn Văn hóa và tạo ra môi trường Văn hóa lành mạnh trong các hoạt động sản xuất, kinh doanh của các Doanh nghiệp và trong đội ngũ Doanh nhân. Chúng tôi quan niệm rằng Văn hóa tạo nên tài sản vô hình đồng thời văn hóa chính lại là tài sản vô hình của doanh nhân.
Đồng thời Hội Văn hóa Doanh nhân Hải Phòng sẽ chú trọng đến các họat động bề nổi của Văn hóa, đó là tạo động lực để thúc đẩy phong trào văn nghệ, phong trào thể thao và các hoạt động mang sắc thái văn hóa trong các Doanh nghiệp và cộng đồng Doanh nhân Hải Phòng.
Tuy nhiên, giá trị mà mỗi người cho bản thân mình mới quan trọng. Cộng hưởng những giá trị ấy làm nên sức mạnh quốc gia.
Hội Văn hoá Doanh nhân là tổ chức đoàn thể xã hội, là sân chơi tự nguyện của các Doanh nhân và của những ai quan tâm đến lĩnh vực Văn hoá Doanh nhân. Đây là một loại hình tổ chức mới, do vậy mọi hoạt động không tranh khỏi bỡ ngỡ, lúng túng. Do vậy để phát triển, rất mong các hội viên, và các doanh nhân, trên tinh thần coi Hội là mái nhà chung, là sân chơi bổ ích và lành mạnh, hãy tích cực tham gia và đóng góp ý kiến xây dựng Hội. Xây dựng Hội và phát triển Hội không là nhiệm vụ của riêng ai, mà của tất thảy Hội viên.
Nhân đây, tôi cũng xin chân thành cám ơn Thành ủy, ủy ban nhân dân thành phố đã cho phép chúng tôi thành lập Hội văn hóa doanh nhân Hải Phòng và rất mong nhận được sự quan tâm nhiều hơn nữa của các cấp lãnh đạo thành phố để văn hóa doanh nhân trở thành một hiện hữu, để văn hóa doanh nhân trở thành mục đích thường xuyên trong đời sống nơi thành phố công nghiệp có đông đảo các Doanh nhân đang lập nghiệp này.
Hải Phòng là Thành phố công nghiệp, có đội ngũ Doanh nhân đông đảo, vì vậy, chúng tôi vẫn ước muốn lãnh đạo Thành phố có một chủ trương mang tính chiến lược để hình thành và phát triển nhằm tạo nền tảng vững bền về văn hóa doanh nhân.  Chúng tôi cũng mạnh dạn để xuất rằng, Thành phố đã có Cung Văn hóa Lao động Hữu nghị Việt Tiệp, Cung văn hóa Thanh niên, Cung văn hóa Thiếu nhi... Thiết nghĩ cũng rất cần thiết có một cung Văn hóa Doanh nhân hay một dạng thức tương tự nhằn phục vụ hoạt động Văn hóa thể thao của các Doanh nhân Hải Phòng.

Đình Kính

MỘT THỜI ĐỂ NHỚ

Tin chung Trackbacks (0) Bản in góp ý (53)   


MỘT THỜI ĐỂ NHỚ

Nhân Đại hội lần thứ nhất Hội Văn hóa doanh nhân Hải Phòng, ban vận động thành lập Hội Văn hóa doanh nhân Hải Phòng phối hợp với Nhà xuất bản Hải Phòng cho ra mắt tập thơ Một thời để nhớ. Sau Gió thị trường, Một thời để nhớ là tập thơ thứ hai của các Doanh nhân Hải Phòng.

Cũng như Gió thị trường, Một thời để nhớ là nỗi niềm, là tình cảm và những rung động chân thực của các Doanh nhân Hải Phòng trước bộn bề cuộc sống, là một dạng thức bộc lộ khát vọng và bổn phận trong ý thức hướng tới sự bằng an, tĩnh tâm và văn hóa. Đó chính là thơ.

Mỗi tác phẩm trong tập do cung bậc tình cảm và kiến văn mỗi người, nên cách thức thể hiện khác nhau, nhưng điều đáng trân trọng là tất thảy đều có một điểm chung, ấy là tính nhân văn và trách nhiệm người viết trước cuộc đời: Con đò mưa níu giữ/ chẳng à ơi lá vàng/ bàn tay dòng sông đằm thắm/ xoá mọi vết gian nan (Minh Trí). Hay: Thành phố biển để lòng người thổn thức/ Đất Hải Phòng day dứt niềm yêu (Nguyễn Ngọc Hiển).

             Thơ trước hết phải là cảm xúc chân thành trước cuộc sống. Cái tình tạo nên thơ: Ta giờ về với dòng sông/ Mãi sông vẫn thế hạn không cạn dòng/ Ôm phù sa cả vào lòng/ Dồn cho cây lúa ôm đòng trổ bông (Bùi Nguyên Tâm). Hay: Với quê hương, với mỗi cuộc đời/ Bao ân tình cứ lặng lẽ sinh sôi/ Trang sử vàng nối dài theo năm tháng/ Ở nơi đấy là Shinec của tôi (Phạm Hồng Điệp). Hay: Đi xa vẫn nặng một lời/ Hẹn ngày về với muôn đời biển yêu (Đào Văn Lai). Hay:  Tôi cúi xuống tìm hoài kỷ niệm/ Cát pha lê in trắng dưới bàn chân/ Thần biển muốn thốt lên/ Một "Tình yêu" đẹp như màu nắng/ Ban tặng cho tôi cả một trái tim (Hoàng Ngân).

             Cái tình ấy phần lớn dành cho quê hương, và đặc biệt dành cho mẹ: Quê hương đồng lúa cánh diều/ Con chim chiền chiện hót chiều mải mê/ Nắng vàng xanh ngắt ngọn tre/ Bờ ao con cuốc gọi hè nhịp kêu/ Cá rô đớp ngọn lúa chiều/ Đàn trâu nhai cỏ bước đều đường quê (Hải Thanh). Hay: Nuôi con thân mẹ héo gầy/ Sớm khuya lặn lội đong đầy buồn vui/ Gian truân tần tảo ngậm ngùi/ À ơi! Mẹ vẫn ngọt bùi mến yêu (Nguyễn Văn Trường). Hay: Mẹ đi về cội, biệt xa xôi/ Nhưng hình bóng mẹ thời thơ ấy/ Vẫn ở bên tôi suốt cuộc đời. (Nguyễn Văn Bảo).

              Nhưng cũng có lúc thơ muốn lý giải điều gì đấy nơi cuộc đời, hoặc giải bày những trăn trở. Thơ cũng là nỗi niềm.: Công danh bay lãng đãng/ Đất nước nặng ngàn cân/ Ngẩng đầu tìm sao sáng/ Cỏ dại lan ngập chân (Hoàng Khôi). Hay: Thiếu em - tất cả như vô nghĩa/ Đất u buồn, cây cỏ mất mầu xanh/ Phố đông người anh ngỡ phố vắng tanh/ Ngàn ánh điện cũng nhạt nhoà, le lói (Kiều Sính). Hay: Cánh cổng chùa ai mở?/ Cửa nhà chùa ai cài then?/ Khách vảng lai chen chúc đến vãng (Đoàn Văn Khương).

               Nhưng sự cảm ấy, nỗi niềm ấy được biểu hiện bằng ngôn từ chắt lọc, bằng con chữ: Cho ngôn từ sống động mê say/ Có "nhãn tự", có nhân, có nghĩa/ Hồn chữ! Hồn chữ ơi, hãy về trong bóng mẹ/ Đấy là địa chỉ tâm linh lòng ta vẫn đi về (Tô Ngọc Thạch)

                 Cách viết trong một thời để nhớ khá đa dạng, chân chất mênh mang nhưng  vẫn là sự kiệm lời mà khúc triết. Nói ít tình nhiều. Đó không gì khác hơn là  sự lịch lãm và tâm thế nơi người viết: Lang thang một mảnh trăng chiều/ Cút côi - Như một cánh diều bỏ quên/ Như chờ một cánh sao lên?/ Như là mang cả hoàng hôn theo về (Nguyễn Trí Tuệ). Hay:  Chốn xưa lặng lẽ bóng tùng quân/ Man mát tình riêng giữa bụi trần/ Xuân đến rồi đi không trở lại. Xuân buồn khắc khoải nhớ tri ân (Nguyễn Thị Phượng). Hay: Vĩ Dạ là thôn của mộng mơ/ Xe đưa tám cụ đến mong chờ/ Nơi Hàn Mạc Tử thơ rung cảm/ Chốn lão thi nhân tứ thẫn thờ (Nguyễn Trọng Nguyên).

           Từ các anh: Tô Ngọc Thạch, Vũ Thành Chung, Minh Trí, Trịnh Anh Đạt, Bùi Quý Thực, Nguyễn Ngọc Thịnh..., những người đã có thành tựu nhất định trong thơ, đã khẳng định bút pháp của mình trên thi đàn đến các chị:  Nguyễn Thị Phượng, Minh Tâm, Hoàng Ngân, các anh: Trần Huy Khánh, Vũ Quốc Thân, Vũ Trọng Thái, Đàm Công Huế, Lương Thanh Bình, Ngọc Châu, Nguyễn Đình Thịnh,... đều góp tiếng nói tâm tình của mình trong tập thơ này. Thành công của Một thời để nhớ trước hết chính là sự tập hợp đội ngũ ấy .

       Giới thiệu Một thời để nhớ đến bạn đọc chúng tôi không quan niệm rằng tất thảy những gì in ra đã mang tính chuyên nghiệp, chúng tôi chỉ  ý thức rằng, dòng chảy thi ca chỉ có thể đa dạng, phong phú khi có nhiều nguồn mạch. Tình cảm người viết mới là điều đáng quý.

                                                                                Nhà văn Đình Kính

Chùm thơ Doanh nhân Hải Phòng

Hoàng Ngân
Giám đốc Công ty điện tử Hoàng Ngân

Biển triều cường

Biển chiều nay cồn cào
Nước mênh mông, bọt tung trắng xoá bờ
Tôi ngắm nhìn triều cường giận dữ
Thầm nghĩ biển thao thức nhiều đêm
Biển về khuya cảnh vật êm đềm
Chỉ có biển mới hiểu thấu lòng thi sĩ
Tôi muốn một lần mình mơ như tình biển
Cứ về khuya, buông tiếng hát cho đời
Và tâm tình với bao nàng tiên nữ
Sáng bình minh thức giấc lại chia tay.

Bùi Nguyên Tâm
Giám đốc Công ty Than Xuân Toan

Trở về với dòng sông

Ta giờ về với dòng sông
Mãi sông vẫn thế hạn không cạn dòng
Ôm phù sa cả vào lòng
Dồn cho cây lúa ôm đòng trổ bông
Ta giờ về lại dòng sông
Cúi đầu ơn một dòng sông ân tình

Hải Thanh
Giám đốc Công ty CP TM Hưng Đạo
 

Đất quê


Quê hương đồng lúa cánh diều
Con chim chiền chiện hót chiều mải mê
Nắng vàng xanh ngắt ngọn tre
Bờ ao con cuốc gọi hè nhịp kêu
Cá rô đớp ngọn lúa chiều
Đàn trâu nhai cỏ bước đều đường quê
Sân nhà ngồn ngộn lúa về
Dưới trăng trai gái thoả thuê tiếng cười
Lúa vàng ngàn ngạt quê tôi
Câu ca văng vẳng người ơi hãy về
Nhắc người xa có nhớ quê
Còn đây quê thói đất lề ngàn năm


Trịnh Anh Đạt
Giám đốc KS Hoa Thành Đạt

Làng Chua

Tên nghe như lúa nghẹn đòng
Dáng hình uốn khúc lưng còng già nua
Nối đời tần tảo chiêm mùa
Quê nghèo gợi nỗi chát chua thuở nào...
Dẫu còn nắng gió hanh hao
Làng vui mở hội ngạt ngào chùa Hang
Phù Lưu lúa đã khoe vàng
Đá thành bột nhẹ rộn ràng xe đi...
Làng Chua như gái dậy thì
Ngực căng hương cốm bật khuy giữa trời

Tô Ngọc Thạch
Giám đốc Công ty TNHH Hồng An

Một phản biện về Nữ thần Tự do

Xác mùa đông chất đầy bến đợi
Gió nhạt mây nhoà phủ kín lối chờ mong
Khát khao tràn ngập cõi lòng
Thời gian đứng nghẹn mình ngoài phố
Buốt giá len vào từng hơi thở
Bên khung trời huyễn hoặc như mơ
Một kỳ quan hoành tráng đến không ngờ...
Chợt giật mình
tiếng động cơ trực thăng đùn ra như hắc ín
Trước cổng an ninh
nỗi buồn hom hem bên hàng rào đứng vịn
Cô đơn lơ ngơ
thấp thểnh tiến lên thấp thểnh thụt lùi
Mưa đảo chao vấp ngã luân hồi
Sóng khật khưỡng xô đổ bóng mình thời xa vắng
Sau mười một tháng chín
Nữ thần buồn
Hành khách mất tự do.

TVHDNHP

Họa sĩ Nguyễn Mạnh

Tin chung Trackbacks (0) Bản in góp ý (46)   


Thương nhớ Họa sĩ Nguyễn Mạnh

Dư Thị Hoàn

Nguyễn Mạnh là người họa sĩ được trời phú cho khả năng bẩm sinh, kết hợp với sự trau dồi, học hỏi, dù biết con đường nghệ thuật vô cùng khó nhọc, nhưng anh cũng đã thành đạt vào tuổi xế chiều.

Tác phẩm của anh đã từng trưng bầy ở 4 cuộc triển lãm cá nhân của thành phố Hải Phòng và thủ đô Hà Nội.  Đặc sắc nhất là chủ đề về chân dung, cách vẽ chân dung không cần người mẫu, hoàn toàn bằng bộ lọc của trí nhớ và sự ám ảnh của nhân vật đã trở thành một lối sáng tác độc quyền mà trong làng hội họa không mấy người bắt trước nổi.

Có những con người chỉ gặp một lần thôi, hoặc chỉ bắt gặp qua truyền hình thôi, cũng đã trở thành nhân vật trong nét vẽ độc đáo đầy rung động của anh và thuyết phục người xem. Có thể nói anh đã dành cả cuộc đời và tâm huyết vẽ chân dung bạn bè và các văn nghệ sĩ mà gây cho anh ấn tượng mạnh mẽ. Anh vẽ chỉ để tặng, họa hoằn nhận được ít tiền đủ mua sơn mua cọ tùy vào lòng hảo tâm của bạn bè.

Cũng chính vì theo đuổi đề tài chân dung eo hẹp đó, anh không có nguồn lợi nhuận về bán tranh, và chấp nhận sống đạm bạc ở một ngôi nhà nhỏ do anh chị cưu mang ở Phương Lưu, vùng ven thành phố. Anh sáng tạo phụ thuộc hoàn toàn vào cảm hứng, chưa bao giờ anh vẽ theo đơn đặt hàng.

Như chúng tôi được biết, anh là người sống không thích khoa chương ồ ã. Không ưa hội hè đình đám. Những lại gây chú ý cho làng báo chí ở hai sự kiện nổi bật của thành phố. Một là, bức tranh phong cảnh về Tam Bạc của anh được bán đấu giá tới 400.000.000 VND do Thành phố Hải Phòng tổ chức năm 2008 để làm từ thiện. Hai là anh đã vẽ chân dung của bà Tổng thống Phần Lan, được Ủy ban Nhân dân thành phố Hải Phòng mua làm quà tặng quốc tế.

Không ai tránh được sinh lão bệnh tử. Do mắc bệnh hiểm nghèo, anh đã đột ngột từ trần vào 16h10', ngày 19 tháng 6 năm 2009 (âm lịch ngày 27 tháng 5 năm Kỷ Sửu). Suốt thời gian anh lâm bệnh, gia đình đã tìm mọi cách cứu chữa, kết hợp đông tây y, nhờ cả đến chuyên gia nước ngoài và các thiết bị chưa trị tối tân ở Việt Nam. Thật đau lòng cho chúng ta, y học đã không cứu vãn được tính mạng của anh ấy, và gia đình đã mất đi một người thân, chúng tôi mất thêm một người bạn.

Cái gì có đã có, cái gì mất cũng đã mất. Đời người như một vở bi hài kịch của tạo hóa. Quan trọng là mỗi chúng ta biết tận tình cho vai diễn của mình sao cho trung thực sao cho suất sắc, để khi nhắm mắt xuôi tay không còn ân hận điều gì, để được những người bạn, người thân tưởng nhớ và tiếc nuối như chúng ta thương nhớ và tiếc nuối họa sĩ Nguyễn Mạnh.

Với tư cách là những người bạn đồng hành trên con đường sáng tạo nghệ thuật, chúng tôi không khỏi bàng hoàng về sự vắng mặt đột ngột của anh, không khỏi tiếc nuối về khả năng hội họa của anh đang thì kết trái. Qua blog Cát Biển, xin gửi lời tri ân đến bạn bè.

DTH

Design by JuliettaRose Studio.
Powered by Vnweblogs.