Những cái tên nghe chẳng thơ đâu

Những Bến Bính, Xi Măng, Cầu Rào, Cầu Đất, Lạc Viên,... Những cái tên nghe chẳng thơ đâu, nhưng với ta vô cùng oanh liệt... Những ai đã sống và từng gắn bó với Hải Phòng đều nhớ đến những ca từ thân thương trong bài hát "Thành phố Hoa phượng đỏ" nhạc Lương Vĩnh, lời thơ Hải Như. CB xin giới thiệu về "Những cái tên nghe chẳng thơ đâu" trong câu hát trên...

BẾN BÍNH

Tên gọi Bến Bính từng xuất hiện trong bài hát "Thành phố Hoa phượng đỏ", nhạc Lương Vĩnh, lời thơ Hải Như: "Những Bến Bính, Xi Măng, Cầu Rào, Cầu Đất, Lạc Viên...". Bến Bính cũng là địa danh được gợi đến trong tác phẩm văn học nổi tiếng của nhà văn gốc Hải Phòng- nhà văn Nguyên Hồng (Tiểu thuyết "Bỉ vỏ"). Nói đến phố Bến Bính, điều đầu tiên mà tất cả những người sống lâu năm ở Hải Phòng nhớ đến, chính là bến phà Bính. Bến phà dài 160m, rộng 8m, thuộc địa bàn xã Gia Viên cũ. Lúc đầu, người ta gọi là bến đò Bính vì là bến đò ngang của người xã Bích Động, huyện Thuỷ Nguyên ở tả ngạn sông Cấm. Khi thành nhượng địa của Pháp, người ta gọi Bến Bính là bến Tự Do, với nghĩa bến công cộng, tàu nào cũng có thể đến xin đậu để sửa chữa. Bến phà Bính là bến lớn, sầm uất vào bậc nhất suốt khu vực Hải Phòng, Cát Bà, Hòn Gai, Cửa Ông, Dân Tiến, Mũi Ngọc, Phả Lại, Bắc Giang..., thường xuyên có 2-3 phà lớn chạy luân phiên chở khách và các phương tiện vận tải qua phà Bính trên sông Cấm sang huyện Thuỷ Nguyên, hoặc qua phà Rừng sang tỉnh Quảng Ninh.
Cho đến nay, phà Bính vẫn còn giữ chức năng chuyên chở hành khách và phương tiện vận tải sang Thuỷ Nguyên, song không còn là đầu mối giao thông duy nhất sang Thuỷ Nguyên và Quảng Ninh, bởi thành phố Hải Phòng đã hoàn thành xây dựng và chính thức đưa vào sử dụng công trình cầu Bính vào dịp kỷ niệm 50 năm Giải phóng Hải Phòng (13-5-2005), tạo điều kiện thông thương nhanh chóng và thuận lợi cho giao thông bộ. Tuy nhiên, bến phà Bính, nằm trên phố Bến Bính, một thời tấp nập, vẫn là địa danh gắn bó với lịch sử Hải Phòng và còn mãi trong tâm thức người đất Cảng

XI MĂNG

Ngày 25-12-1899, trên mảnh đất ngã ba sông Cấm và kênh đào Hạ Lý, Nhà máy Xi măng Hải Phòng- nhà máy lớn nhất Đông Dương bấy giờ, chính thức khởi công, hình thành cái nôi đầu tiên của ngành công nghiệp xi-măng Việt Nam
Ra đời và phát triển tại thành phố Hải Phòng, nơi có nhiều cơ sở công nghiệp lớn, hải cảng giao lưu quốc tế, lúc bấy giờ, nhà máy xi-măng có vị trí đặc biệt quan trọng trong cơ cấu kinh tế của chính quyền Pháp tại Việt Nam. Xi măng là loại vật liệu xây dựng mới, một chất kết dính trong xây dựng, được tìm ra vào cuối thế kỷ 19, sản xuất trước tiên tại Anh, Pháp, Đan Mạch, Mỹ... Người Pháp cũng mau chóng nhận ra sản xuất xi-măng có lợi nếu đặt những chi nhánh nhà máy ở Bắc kỳ. Nhà máy xi măng Hải Phòng là địa điểm thuận lợi nhất để xây dựng bởi nằm gần nguồn đá vôi và than đá quanh Hòn Gai, trên bờ vịnh Hạ Long, lại có cảng biển thuận tiện cho vận chuyển.
Với hơn 100 năm hoạt động, Nhà máy xi-măng Hải Phòng làm ra hàng trăm triệu tấn xi măng, hàng vạn công nhân thuộc nhiều thế hệ người lao động Hải Phòng đã làm việc, chiến đấu và hy sinh ngay trong nhà máy. Xi măng Hải Phòng là cái tên thân thuộc, gắn liền với niềm tự hào đất Cảng, cũng như nhà máy dệt Nam Định, hay đóng tàu Ba Son ở Sài Gòn. Trong hình dung về thành phố Hải Phòng thế kỷ trước, cùng với chiếc cần cẩu con hươu nơi bến cảng, là hai ống khói Nhà máy Xi măng Hải Phòng ẩn hiện phía tây bắc. Khói trắng xi măng Hải Phòng đã đi vào thơ ca, nhạc họa: "Thành phố nơi em sống, có khói trắng xi măng như tóc mẹ già, tiếng còi tầu, ấm như tiếng cha...". Không chỉ là niềm tự hào của dân đất Cảng, nhãn hiệu 'Con Rồng' của xi-măng Hải Phòng còn nổi tiếng hàng thế kỷ trước trên cả vùng Viễn Đông rộng lớn, tới tận Vla-đi-vô-xtốc (LB Nga), JAWA (In-đô-nê-xi-a), Xin-ga-po, Hoa Nam (Trung Quốc)...
Tự hào là thế! Nhưng người Hải Phòng vẫn đủ công bằng nhận thấy mười năm trở lại đây, khói trắng xi-măng gây ra ô nhiễm với nhiều khu vực của thành phố. Gió đông nam, nửa huyện Thủy Nguyên hứng bụi; gió đông bắc, nửa thành phố ngửi khói. Ngay khi trời lặng gió, cả vùng Sở Dầu cũng mờ mờ màu khói; các tán lá cây trong vùng quanh năm trắng xoá, tỷ lệ người dân sống gần khu vực nhà máy bị các bệnh liên quan đến đường hô hấp cũng nhiều hơn nơi khác... Ô nhiễm của nhà máy đã trên mức báo động. Người dân Hải Phòng quyết tâm đề nghị cơ quan chức năng mau chóng di chuyển nhà máy ra khỏi thành phố.
10 giờ sáng ngày 24-1-2006, Công ty Xi măng Hải Phòng chính thức tắt hệ thống lò nung! Sự kiện lịch sử với nhà máy thực sự là niềm vui, nhưng cũng gây cho 1.824 công nhân nhà máy cảm xúc khó tả, nhất là với những công nhân gắn bó với nhà máy hơn ba chục năm. Ngày mai, chỉ mai thôi, cảnh lao động cực nhọc sẽ hết, thay vào đó là điều hành toàn bộ thiết bị dây chuyền hiện đại, ai không thấy xốn xang, nhất là những người từng gắn bó với nhà máy này cả cuộc đời. Dây chuyền Xi măng Hải Phòng mới được xây dựng tại mỏ đá Tràng Kênh, thị trấn Minh Đức, huyện Thuỷ Nguyên với công suất 1,4 triệu tấn xi măng một năm theo phương pháp khô (lò quay) do hãng F.L.Smith (Đan Mạch) chế tạo, cung cấp. Đây là dây chuyền sản xuất xi măng hiện đại nhất Việt Nam hiện nay với công nghệ nghiền riêng biệt clanh-ke và phụ gia, giúp chủ động hoàn toàn trong việc kiểm soát mác xi măng.
Nhà máy xi măng Hải Phòng mới chính là độ cao mới mà thương hiệu xi măng 'Con Rồng' bay tới. Tuy vậy, trong ký ức người Hải Phòng, vẫn còn y nguyên, bên bờ sông Tam Bạc, hình ảnh tượng đài người công nhân xi măng, đầu ngẩng cao nhìn về phía Tây, bàn tay người thợ tựa lên chiếc xe cút kít thô sơ chất đầy bao xi măng "Con Rồng", nhãn hiệu nổi tiếng của xi măng Hải Phòng từ thời Pháp thuộc. Với tay nghề và kinh nghiệm người thợ xi măng Hải Phòng, thương hiệu này sẽ tiếp tục lừng lẫy. Cùng các nhà máy xi măng mới, hiện đại như Bút Sơn, Hoàng Mai, Tam Điệp, ngày 30-11-2005, dây chuyền lò nung Nhà máy Xi măng Hải Phòng (mới) chính thức đi vào hoạt động sản xuất mẻ clanh-ke đầu tiên. Đến nay, nhà máy sản xuất được trên 50.000 tấn clanh-ke chất lượng tốt, thay thế nhà máy cũ lạc hậu, tiếp nối sự nghiệp sản xuất xi măng mà các thế hệ cha anh đã làm trên 100 năm, để sản phẩm xi-măng Con Rồng tiếp tục tham gia vào sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước.

CẦU RÀO

Cầu Rào bắc qua sông Lạch Tray, trên đường Hải Phòng đi Đồ Sơn. Vì vị trí cầu thuộc địa phận làng Rào, tên nôm của làng An Khê, nên được gọi như vậy. Vào những năm cuối của thế kỷ XIX, đầu thế kỷ XX, Pháp làm đường Hải Phòng - Đồ Sơn, dẫn đến nơi nghỉ mát và xây pháo đài quân sự ở mỏm núi. Nhưng còn sông Rào rộng chưa bắc cầu nên cản trở đi lại, mặc dù đã có phà kéo bằng dây cáp.
Tháng 2/1907, Thống sứ Bắc Kỳ quyết định tài trợ cho Hải Phòng làm cầu Rào. Lúc đầu, cầu Rào đặt ở gần cổng khách sạn Chuyên gia hiện nay, làm bằng sắt, dài 174m. Tháng 12/ 1946, thực hiện chủ trương tiêu thổ kháng chiến, quân ta đã lột hết ván lát mặt cầu và phá một số thanh giằng ngang. Năm 1947, Pháp đã sửa lại và đặt lô cốt ở hai đầu cầu để bảo vệ. Năm 1960, ta đã sửa chữa, nhưng ngày 2-9-1969 bom Mỹ đã phá sập cầu. Ta đã phải đặt cầu phao để thay cầu cứng. Suốt thời kỳ chiến tranh, cầu bị đánh phá ác liệt. Sau hoà bình, tháng 8-1976, cầu Rào được làm lại ở vị trí hiện nay, bằng phương pháp lắp hẫng dùng bê- tông cốt thép ứng xuất trước. Ngày 28-1-1980, cầu được khánh thành. Cầu mới dài 174m, rộng 12m. Ngày 16-7-1987, cầu lại bị sập nhịp mố phía Bắc. Vì vậy phải dỡ bỏ và sau đó được làm lại kiên cố với hai làn xe như hiện nay.

CẦU ĐẤT

Phố Cầu Đất thuộc quận Ngô Quyền và Lê Chân, thuộc đất Gia Viên và An Biên cũ. Trước năm 1955, phố Cầu Đất thuộc khu Ga, lúc mới mở, gọi là phố Pôn Đu-me (Avenue Paul Doumer), lấy tên Toàn quyền Đông Dương (năm 1896-1902), sau là Bộ trưởng Tài chính rồi Tổng thống Pháp. Giai đoạn 1946-1962, phố còn gọi là đại lộ Hồ Chí Minh, Trần Hưng Đạo. Năm 1963, tên phố đổi thành Cầu Đất và được giữ đến ngày nay
Cầu Đất là tên gọi khá đặc biệt bởi không lấy tên gọi một danh nhân, nhân vật lịch sử nào; nó có lai lịch riêng. Trước đây, giữa hai xã An Biên và Gia Viên có con lạch nhỏ Liêm Khê, vốn là nhánh phụ của sông Tam Bạc đổ vào sông Cấm. Lạch Liêm Khê là tiền thân của kênh Bôn-nan đào năm 1885. Trên cơ sở lạch Liêm Khê, Bôn-nan cho đào kênh vành đai dài 3km, rộng 74m. Bắc qua lạch, ở khu vực Quán hoa ngày nay, là cây cầu tre nhỏ, trên mặt đắp đất, thường gọi là cầu Đất. Tên phố sau này có nguồn gốc từ đó. Như vậy, cầu Đất trong sử liệu không trùng với vị trí cây cầu nằm trên phố Cầu Đất hiện nay, được dùng làm đường gom tránh tàu đi qua phố Cầu Đất vào ga, từng nhiều lần được sửa chữa, nâng cấp từ bằng gỗ, sang bê-tông.
Thời Pháp thuộc, Cầu Đất là phố buôn bán và có nhiều nghề thủ công. Phố Cầu Đất từng nhiều lần bị máy bay Mỹ bắn phá, điển hình là trận không kích hồi 22 giờ 10 ngày 26-12-1972. Sau ngày hoà bình lập lại, phố được cải tạo nhiều, năm 1980, được trải bê-tông nhựa, đặt đèn thuỷ ngân cao áp. Phố có nhiều cơ sở cách mạng như hiệu Trần Mỹ Lâu (trước cửa rạp Công Nhân hiện nay) do Hoàng Độc tổ chức, là nơi liên lạc quốc tế của Đảng Cộng sản những năm 1929-1931; nhà số 8 ngõ Quảng Lạc - trụ sở Ban Tài chính trung ương, do Trần Văn Lan phụ trách. Phố hiện có trụ sở của các cơ quan: Công ty phát hành sách (số 75); Cửa hành kinh doanh tổng hợp Cầu Đất (số 60), UBND phường Cầu Đất (số 120). Ngày nay, Cầu Đất vẫn là trung tâm buôn bán lớn của thành phố, với rất nhiều cửa hàng buôn bán vàng bạc đá quý, kính mắt, quần áo thời trang... Nằm trên trục trung tâm, lại dẫn ra cửa ô phía Bắc và khu du lịch Đồ Sơn, lưu lượng người và xe hàng ngày qua lại phố Cầu Đất rất đông. Nhằm giảm ách tắc giao thông, từ 2 năm gần đây, Cầu Đất chuyển thành đường một chiều, đi về phía nút giao cắt Lê Lợi- Lạch Tray- Tô Hiệu, còn gọi là ngã tư Thành Đội.

LẠC VIÊN

Nh
ắc đến địa danh Lạc Viên là mọi người nhớ đến Đình Lạc Viên, xưa thuộc làng Lạc Viên, tổng Đông Khê, phủ Kinh Môn, Hải Dương nay thuộc phường Lạc Viên, quận Ngô Quyền thành phố Hải Phòng. Cùng với những di tích khác trên địa bàn thành phố, đình Lạc Viên là một trong những điểm thờ Đức Vương Ngô Quyền trên mảnh đất vị chủ tướng lập nên nhiều chiến công lịch sử, mở kỷ nguyên độc lập dân tộc. Từ năm 1522 đến năm 1934 các triều vua đã sắc phong cho đình 44 đạo sắc thờ Đức Vương Ngô Quyền và các vị thần. Tương truyền nơi đây, Ngô Quyền đã chiêu binh mãi mã để chuẩn bị cho trận đánh lịch sử trên sông Bạch Đằng.
Đình có kiến trúc chữ Đinh gồm 5 gian tiền đường, các vì kèo kết cấu kiểu chồng rường, nghệ thuật chạm khắc trong đình chủ  yếu là chạm nổi hình rồng phượng, mây trời, hoa lá cách điệu. Các mảng chạm khắc có bố cục chặt chẽ, đường nét phóng khoáng. Mái đình lợp ngói vẩy rồng cong vút với rêu phong cổ kính. Bờ nóc đắp nổi "lưỡng long chầu nguyệt". Các đầu đao cong như cánh tay thôn nữ, trên có trang trí các con kềm, con sô. Khung đình là liên kết mộng gỗ tinh tế và đẹp mắt.
Đình Lạc Viên từ năm 1960 được sử dụng làm trường học, đến năm 1991 đình được hoàn trả để phụng thờ theo truyền thống. Đã có lúc đình Lạc Viên bị xuống cấp theo thời gian, đứng trước nguy cơ bị biến mất hoàn toàn. Nhân dân địa phương và du khách thập phương đã đóng góp công sức, tin của để khôi phục lại ngôi đình cho thêm phần bề thế, khang trang. Đình được trùng tu, giữ được kiến trúc cổ, toàn bộ đồ tế khí đều tạo dựng mới, tạc mới tượng Đức vương Ngô Quyền, Đông Hải Đại Vương Đoàn Thượng và Nam Hải Đại Vương Phạm Tử Nghi.
Các Lễ hội dân gian truyền thống tri ân Đức Vương Ngô Quyền. Các hội, lễ nổi bật như thánh hoá, khánh hạ, kỳ an, kỳ phúc... tại đình Lạc Viên được lưu truyền và gìn giữ cùng những nếp xưa, tục cũ tốt đẹp. Trong ngày hội, sân đình rộn ràng những trò chơi dân gian thu hút sự tham gia của đông đảo người dân và du khách như: đấu vật, thi võ cổ truyền, chọi gà, hát chèo, ca trù... Đình là nơi sinh hoạt văn hoá, tín ngưỡng cổ truyền, từ các hoạt động dành cho thiếu nhi đến những đêm nhạc kỷ niệm chiến thắng Bạch Đằng lịch sử đều được tổ chức long trọng tại sân đình. Năm 2009, đình Lạc Viên được xếp hạng di tích cấp quốc gia.

CB